NGHỊ QUYẾT SỐ 36 CỦA BỘ CHÍNH TRỊ VỀ KIỀU BÀO

 

  • Đối tựơng chính của Nghị quyết này là nhắm tới người Việt ở Mĩ
  • Nội dung Nghị quyết thể hiện quán tính dối trá và tinh thần vô trách nhiệm của những người cầm đầu chế độ
  • Những người lănh đạo nằm mơ nên đă đưa ra sách lược „củ cà rốt và cây gậy“ đối với kiều bào
  • Thái độ thích hợp và chủ động của các Cộng đồng VN ở nứơc ngoài
  •  

 ÂU DƯƠNG THỆ

 

 

Trứơc dịp kỉ niệm 29 năm dùng bạo lực chiếm đóng miền Nam và mở rộng chế độ độc tài toàn trị trên toàn quốc, ngày 26.3 vừa qua Bộ chinh trị (BCT) Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) đă công bố Nghị quyết (NQ) số 36 „về công tác đối với ngừơi VN ở nước ngoài.“ (1) Sau khi NQ của BCT vừa ra đời th́ Nguyễn Phú B́nh, Thứ trưởng Ngoại giao và vừa thay Nguyễn Đ́nh Bin làm Chủ nhiệm Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài, đă tuyên bố trong cuộc phỏng vấn của Thông tấn xă VN (TTXVN) ngày 1.4: Đây là nghị quyết công khai đầu tiên về công tác người Việt Nam ở nước ngoài. (2)

 

Tại sao BCT lại đưa ra Nghị quyết vào thời điểm này?

 

Trứơc khi đi sâu vào NQ này cần nắm vững tại sao BCT đă công bố NQ số 36 vào thời điểm này? Chúng ta biết là NQ số 36 là kết quả của Hội nghị Trung ương (HNTU) 7 (phần 2) đă họp vào tháng 1.03  để bàn về các chính sách gọi là „đoàn kết dân tộc“ và „tự do tôn giáo“. (3) Sau hơn một năm thai nghén nay NQ này mới được ra đời.

Theo cách làm việc của ĐCSVN th́ trong mỗi giai đoạn có những những mục tiêu phải giải quyết và họ thường gọi cho đó là nhiệm vụ chính trị. Các chính sách hay đừơng lối của đảng trong giai đoạn đó phải nhắm tới ưu tiên là thực hiện được nhiệm vụ chính trị này.

Từ sau Đại hội (ĐH) 9 (4.01) ban lănh đạo mới của ĐCSVN đă đưa ra một số nhiệm vụ chính trị cho thời ḱ này là:

  • Ổn định chính trị trong nước (tức là tiếp tục duy tŕ chế độ toàn trị của ĐCSVN)
  • Tăng trửơng kinh tế cao
  • Mở rộng bang giao với phương Tây, nhất là với Hoa ḱ, để có thêm viện trợ, đầu tư và giải quyết vấn đề an ninh quốc pḥng.

T́nh h́nh VN và thế giới trong thời gian gần đây, nhất là sau biến cố 11.9.01, đă làm chế độ Hà nội bị đẩy vào thế phải mở cửa nhanh và mở rộng hơn nữa với phương Tây, nhất là với Hoa ḱ, th́ mới giải quyết được việc gia nhập vào Tổ chức Thương mại Quốc tế (WTO) và củng cố an ninh quốc pḥng.

Nhưng để thực hiện các nhiệm vụ chính trị trên đây, họ thấy rơ có một sức cản ngày càng lớn đó là thế đối lập của các cộng đồng VN ở nứơc ngoài, trong đó phải kể trứơc tiên là Cộng đồng ngừơi Việt ở Mĩ. V́ hai lí do: 1. Với hơn một triệu người Việt đang sinh sống ở Mĩ th́ đây là cộng đồng đông nhất (chiếm khoảng 50% tổng số người Việt ở nước ngoài) và cũng có nhiều tiềm năng lớn. 2. Cộng đồng này đang sinh sống ở siêu cường duy nhất trên thế giới, mà hiện nay siêu cường này lại là đối tượng tranh thủ chính của chế độ Hà nội cả về kinh tế lẫn an ninh đối ngoại.

Có nắm vững được những cơ sở suy nghĩ và tính toán này của Hà nội th́ mới có thể hiểu được những động cơ của ban lănh đạo CSVN đă cho ra Nghị quyết của BCT về vấn đề kiều bào vào thời điểm này.

 

Như vậy Nghị quyết số 36 của BCT về kiều bào là cái logik của chính sách mở cửa với phương Tây của nhóm lănh đạo CSVN. Nếu phân tích sâu hơn nữa t́nh h́nh của chế độ CSVN nói chung, đặc biệt là kết quả của chính sách mở cửa với phương Tây để đổi mới kinh tế ḥng cứu vớt chế độ, c̣n cho thấy Nghị quyết của BCT về kiều bào là phản ảnh thế bị động của ban lănh đạo hiện nay.

Thật vậy, trong những năm mở cửa vừa qua Hà nội đă nhận được tài trợ rất lớn của các cơ quan tài trợ quốc tế như Ngân hàng Thế giới, Quĩ tiền tệ Quốc tế, Ngân hàng Phát triển Á châu, Chương tŕnh phát triển của LHQ và một số các nứơc và liên quốc như Nhật và EU. Số viện trợ và cho vay với lăi suất rất thấp này hiện lên tới gần ba tỉ Mĩ kim mỗi năm và là nguồn tài trợ chính cho các công tŕnh xây dựng hạ tầng cơ sở, như các đường cao tốc, cầu cống và hải cảng chung quanh Hà nội, Sài g̣n, Hải pḥng và các trung tâm kĩ nghệ đang xây cất. Trong những năm gần đây các công tŕnh xây dựng này đang trở thành đầu tầu cho sự phát triển kinh tế và là nơi tạo công ăn việc làm cho hàng trăm ngàn ngừơi. (4) Nhưng đồng thời đây cũng là nơi các tham quan đang phóng tay vơ vét và tham nhũng!

Tuy nhiên, các đối tác chính tài trợ cho Hà nội đang thúc dục chế độ phải có những cải cách nhanh theo lối thông thoáng, cởi mở không chỉ trong kinh tế, mà cả trong nhiều lănh vực như bài trừ tham nhũng, về tự do tôn giáo, nhân quyền, hành chánh, pháp luật… (5) Từ sau biến cố 11.9.01, dứơi áp lực của Hoa ḱ, các định chế tài chánh quốc tế và các quốc gia tài trợ đang gia tăng đ̣i hỏi hơn nữa đối với Hà nội.

Mặt khác, sau 16 năm bị bất dắc dĩ phải đổi mới và mở cửa với phương Tây và tuy những sự đổi mới và mở cửa này chỉ giới hạn trong kinh tế, nhưng cũng đang đưa tới một số kết quả ngày càng tỏ ra bất lợi cho phe đảng cầm quyền. Từ một xă hội hoàn toàn khép kín nay VN đang trở thành một xă hội bán mở, trong đó chế độ đang rơi vào một t́nh thế rất lúng túng và bị động, tuy sức ép và bộ máy đàn áp của chế độ vẫn c̣n đó, nhưng nó không thể khai triển đựơc toàn diện, nên hiệu năng của nó ngày càng bị giới hạn. Hiện tựơng này có thể thấy rơ qua một số cuộc vận động của nhân dân thuộc nhiều thành phần khác nhau đ̣i quyền sống của họ, đ̣i tự do tôn giáo, tự do tư tửơng, chống tham nhũng, quan liêu và sách nhiễu của các viên chức trong thời gian gần đây.

 

Nội dung Nghị quyết phản ảnhbản chất độc tài

và quán tính vô trách nhiệm của giới lănh đạo

 

NQ này có 4 phần: phần đầu nói về t́nh h́nh, phần hai nói về chủ trương và phương hứơng; phần ba nói về nhiệm vụ; phần bốn về tổ chức thực hiện.

Mục tiêu của NQ BCT là chiếu cố tới gần ba triệu ngừơi đang sinh sống ở nứơc ngoài, trong đó 80% ở trong các nước phương Tây với trên một triệu đang sinh sống ở Mĩ từ sau 1975. Nhưng ngay trong phần nhận định BCT đă không dám đả động ǵ tới nguyên nhân h́nh thành của các Cộng đồng VN này. Tránh né không dám nói tới nguyên nhân, tức là tránh né việc xin lỗi, nh́n nhận những sai lầm v́ sao mà hàng triệu ngừơi phải bỏ nứơc ra đi sau 1975. Đây là một thái độ thiếu tự trọng và không thành thực của nhóm lănh đạo. Đă thế, nhóm cầm quyền hiện nay, cũng như những người cầm quyền trứơc họ, vẫn lập lại thái độ kẻ cả, cha chú khi nói với kiều bào:“Đồng bào luôn luôn nuôi dữơng, phát huy tinh thần yêu nước“!

Họ lờ đi nguyên nhân phải bỏ nước ra đi của đại đa số người Việt sau 1975 là do chủ trương bạo lực, gây hận thù và trả thù hàng triệu ngừơi trong các trại cải tạo, như nhiều „cách mạng lăo thành“ của ngay chế độ, cả Mai Chí Thọ, nguyên Uỷ viên BCT và Bộ trưởng Công an, đă nh́n nhận trong cuộc thảo luận về dự thảo Nghị quyết của HNTU 7 (phần 2) về „đoàn kết dân tộc“, mà NQ số 36 của BCT về kiều bào là con đẻ của NQ này. Không những thế, những người đưa ra Nghị quyết số 36 c̣n lên giọng đạo đức nhân nghĩa giả dối:

„Đảng và nhà nước ta luôn luôn coi cộng đồng VN ở nước ngoài là một bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc VN…“.

Nói như vậy có nghĩa là họ tự đánh lừa cả thâm tâm của họ. Thực sự trứơc sau họ vẫn coi đại đa số kiều bào phải ra đi sau 1975 là những phần tử „ chạy theo đế quốc, kẻ thù của dân tộc“. Chỉ mới trong một số năm gần đây v́ cần tới tiền bạc của kiều bào th́ họ thay đổi giọng lữơi!

Một mặt họ lên giọng giả nhân giả nghĩa với kiều bào, mặt khác họ lại c̣n thiếu tinh thần trách nhiệm và mất sự tự trọng cần thiết khi họ đổ tất cả lỗi lầm về các chính sách đối với kiều bào cho các cấp dứơi:

„Nguyên nhân chủ yếu của những yếu kém trên là các cấp, các ngành, các đoàn thể nhân dân chưa nhận thức thực sự đầy đủ và sâu sắc các quan điểm chỉ đạo của Đảng [ư nói cấp lănh đạo, ghi chú của người viết] về công tác đối với ngừơi VN ở nứơc ngoài.“

Nói như vậy có nghĩa là nhóm lănh đạo luôn luôn đúng, chỉ có cấp dứơi làm bậy! Đây là một quán tính về tư duy và tư cách trốn trách nhiệm của nhóm lănh đạo độc tài hiện nay, không thay đổi ǵ so với trước đây. Nhận định này đă được Trần Bạch Đằng, ngừơi từng chỉ huy công tác trí vận của Đảng ở miến Nam trong nhiều thập niên, xác nhận trong cuộc thảo luận của các „cách mạng lăo thành“ về dự thảo NQ của HNTU 7, trước khi đẻ ra NQ số 36 của BCT:

„… dự thảo không có ǵ mới, tôi xin nói thẳng, dự thảo lặp lại một số khẩu hiệu, mọi chuyện đă nói từ trước đến nay không biết bao nhiêu lần rồi và coi như thuộc ḷng và bằng ḷng với cách diễn đạt.” (6)

 

Một trong những đối tượng chính mà chế độ muốn tranh thủ là các chuyên viên người Việt ở nước ngoài. Trong NQ số 36 họ đă nói rơ là dùng các chuyên viên trong các cộng đồng VN ở nứơc ngoài để làm trung gian môi giới với các nước sở tại trong các hoạt động thương mại, đầu tư với VN. Bởi v́ chế độ Hà nội chưa biết rơ đường đi nước bước ở các nước sở tại bằng kiều bào.

Chính sách này cũng đă được Hà nội sử dụng trong những năm sau 1975 đối với một số chuyên viên VN thân chế độ sinh sống ở Mĩ, Pháp và Đức. Trong thời gian đó, đại diện sứ quán của Hà nội ở các nứơc này đă vỗ về và ngợi khen nhiều chuyên viên VN giúp đỡ họ trong công tác làm môi giới với các nhà kinh doanh và xí nghiệp các nước sở tại. Nhưng sau khi đă bắt được liên lạc trực tiếp với các giới này th́ các sứ quán Hà nội đă lơ là ngay với những người đă từng giúp đỡ, chỉ cho họ đừơng đi nứơc bứơc.

Thái độ vắt chanh bỏ vỏ là chính sách quen thuộc của giới cầm đầu CSVN từ trứơc tới nay, không chỉ với các chuyên viên VN ở nứơc ngoài, mà cả với các chuyên viên và đoàn thể ở trong nước. Cụ thể như đối với Mặt trận Giải phóng miền Nam, hay với Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát, Trương Như Tảng, Lư Chánh Trung, Nguyễn Hộ….Thái độ vắt chanh bỏ vỏ, được thỏ th́ giết chó săn của nhóm cầm đầu chế độ cũng bị các „cách mạng lăo thành“, ở đây là Mai Chí Thọ, tố cáo kịch lịch trong cuộc thảo luận về Dự thảo NQ của HNTU 7 (phần 2):

„Có chiến thắng rồi, chiếm lĩnh toàn quốc rồi th́ ḿnh coi khẩu hiệu hoà hợp dân tộc hết rồi…“ (7)

 

Trong NQ của BCT những người cầm đầu chế độ hiện nay c̣n nhiều lần nhắc tới chủ trương và chính sách bảo vệ quyền lợi của kiều bào. Sau 1975 hàng triệu thuyền nhân đă bị đẩy ra biển vô cùng tàn nhẫn, nhưng nhóm lănh đạo không có áy náy ǵ, trái tim của họ đă lạnh giá. Trong thập niên 80 Hà nội thực thi chính sách xuất khẩu lao động. Hàng trăm ngàn thanh niên VN đă bị bán làm lao động rẻ tiền cho cựu Liên xô, Đông Đức và Tiệp khắc để làm những ngừơi phải trả nợ thay cho chế độ Hà nội. Nay khi những thuyền nhân và các công nhân từ bàn tay trắng đă xây dựng lại cơ nghiệp mới ở các nứơc ngoài th́ nhóm lănh đạo bèn lên tiếng bảo vệ quyền lợi cho những ngừơi này! Thật không biết phải dùng từ ngữ nào cho đúng để diễn tả tâm địa giả nhân giả nghĩa của những ngừơi cầm đầu chế độ!

Có một điều rất thực tế và rất khẩn thiết cần nói thẳng với họ: Hiện nay hàng ngàn thanh niên VN đang bị đưa sang làm công nhân rẻ tiền ở Mă lai Á. Nhưng tại đó họ đang bị mất việc, phải đi làm ăn mày và lúc nào cũng có thể bị công an địa phương bắt nhốt. Nhưng chế độ Hà nội vẫn bỏ mặc họ, thái độ đem con bỏ chợ này đang bị ngay dư luận trong nứơc kết án.

Tờ Sài g̣n giải phóng ngày 7.4 cho biết hiện nay trên 700 lao động VN đang lâm cảnh mất việc làm, bị đói khát v́ bị chủ không trả lương từ mấy tháng nay. Ngay cả hàng ngàn người khác có việc làm, đời sống cũng vô cùng cực khổ. Mă lai Á là nước rất nóng nực, nhưng trong mỗi Container rộng 10m2 th́ 10 ngừơi lao động VN phải sống chen chúc, cực khổ! (8)Vậy thử hỏi, tinh thần trách nhiệm bảo vệ quyền lợi kiều bào của nhóm cầm đầu chế độ là như vậy sao?

 

Bộ chính trị đối xử với kiều bào theo lối „Củ cà rốt và cái roi“!

 

Trong NQ về kiều bào phần về các nhiệm vụ, BCT đă có dụng ư chú trọng nhấn mạnh mặt t́nh cảm và lợi lộc, như tạo điều kiện về thăm quê hương, mua bán nhà cửa và thờ cúng tổ tiên…Nhưng bên cạnh đó lại không ngớt đe doạ:

„Giải quyết có t́nh, có lí và trên cơ sở đạo lí VN các vấn đề nhân đạo do lịch sử để lại nhằm thực hiện chủ trương đại đoàn kết dân tộc, đồng thời có biện pháp phù hợp đấu tranh với những biểu hiện cố t́nh đi ngược lại lợi ích dân tộc, phá hoại quan hệ giữa các nước có đông người VN sinh sống với VN hoặc gây chia rẽ trong cộng đồng người VN ở nước sở tại.“

Những ngừơi có quyền lực nhất trong BCT đưa ra kế hoạch „củ cà rốt và cái roi“ đă năm mơ, tửơng có thể làm sống lại chính sách quan liêu cha chú ngay cả với ngừơi Việt ở hải ngoại! Nhưng ở đây họ đă quên rằng, đa số ngừơi Việt trong các cộng đồng VN ở nứơc ngoài là những ngừơi tự do và sống trong những xă hội dân chủ, không như con cá nằm trên thớt để cho quan chức độc tài sai khiến tuỳ tiện!

 

Thái độ thích hợp và hành động hợp lí của các cộng đồng

 

NQ BCT số 36 mới chỉ nêu ra nhận định, phương hứơng, nhiệm vụ và cơ quan thực hiện tổ chức. Trong thời gian tới các chính sách và biện pháp cụ thể sẽ đựơc khai triển theo NQ trên. Điều này đă được Chủ nhiệm Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài, TTNG Nguyễn Phú B́nh trả lời trong cuộc phỏng vấn mà chúng tôi đă nói ở phần đầu. Nguyên văn:

“… Bộ Ngoại giao sẽ tŕnh Chính phủ thông qua chương tŕnh hành động để thực hiện nghị quyết này. Theo ông, các cấp, các ngành, các địa phương, các cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài cần chủ động xây dựng lộ tŕnh và thực hiện Chương tŕnh hành động của Chính phủ, có những bước đi và biện pháp cụ thể…“ (9)

Nếu căn cứ vào t́nh h́nh hiện nay để biết tại sao NQ số 36 ra đời vào thời điểm này th́ chúng ta thấy khá rơ là những ngừơi lập kế hoạch cho NQ này đang ở tư thế bị động ở ngay trong nứơc cũng như đối với bên ngoài. Đă thế họ lại không theo đuổi mục đích lành mạnh và động cơ trong sáng. Đối tượng của họ nhắm tới là các cộng đồng ngừơi Việt ở hải ngoại, chính là nạn nhân của họ, nhưng hiện nay những ngừơi này đang sinh sống trong những xă hội dân chủ tự do thực sự. Mặc dù các uỷ viên BCT đang có quyền lực nhất là những người nhiều thủ đoạn và nham hiểm, nhưng ư đồ không lành mạnh, thế của họ đang yếu và địa bàn áp dụng kế hoạch lại nằm ngoài tầm tay của họ, v́ thế khả năng thực hiện NQ 36 sẽ vô cùng hạn chế.

 

Trong hoàn cảnh đó, các cộng đồng VN ở nước ngoài hăy b́nh tĩnh, chủ động đưa ra những đối sách thích hợp nhằm phục vụ quyền lợi chính đáng của các cộng đồng chúng ta, đồng thời hổ trợ đắc lực cho nhân dân ở trong nước với hướng nhắm tới là mở rộng nhân quyền, tự do và dân chủ cho VN!

Nếu nắm vững được hoàn cảnh vô cùng khó khăn hiện nay của nhóm cầm quyền th́ dù cho các thủ đoạn t́nh cảm, mua chuộc hay cả những đe doạ trong sách lược „củ cà rốt và cái roi“ như trong NQ số 36 đă bộc lộ, cũng chẳng đánh lừa được ai và không làm ai sợ. Trong thời gian tới, đặc biệt trong năm 2005, năm kỉ niệm 30 năm họ chiếm đóng miền Nam, họ sẽ t́m cách thi thố các thủ đoạn theo chiêu bài „đại đoàn kết dân tộc“!

Nhưng chúng ta có thể nói thẳng và nói trước cho họ biết: Tất cả các thủ đoạn cũ, thái độ giả nhân giả nghĩa không c̣n che mắt được ai. Những đe doạ cũng chẳng làm ai sợ hăi. Chỉ có tấm ḷng trong sạch, thành thực và mục tiêu trong sáng cho tương lai chung của đất nước mới tạo được sự tin tửơng và hợp tác một cách b́nh đẳng cùng có lợi giữa các cộng đồng VN ở nứơc ngoài, với các lực lựơng dân chủ ở trong nước và với những thành phần tiến bộ trong chế độ!

Các cộng đồng chúng ta hăy tự tin, nên biết sức mạnh và sở trường của ḿnh, nắm vững được các ư đồ và mưu kế của chế độ Hà nội. Trong mỗi giai đoạn đấu tranh chúng ta nên biết tập trung vào mặt trận chính yếu nhất mà đối thủ đang gặp khó khăn nhất! Đây là ch́a khoá đẩy lui độc tài và từng bước cùng với nhân dân ở trong nước chuyển Việt Nam sang dân chủ thực sự! ♣

 

 

GHI CHÚ

1.Toàn văn Nghị quyết xem Nhân dân (ND) ngày 30.3.04. Các đoạn trích trong bài không ghi xuất xứ là từ Nghị quyết này.

2. Nguyễn Phú B́nh, Chính sách đối với người Việt ở nước ngoài: Mạnh dạn, thông thoáng và toàn diện hơn, TTXVN 30.3.04; tiếp tục đổi mới công tác đối với cộng đồng người VN ở nước ngoài, ND 1.4.04

3. Xem các bài của Nguyễn Thế An, Nguyễn Quốc Khải và Trần Thế Dương trong Dân chủ & Phát triển số 26, 8.03

4. TS Lê Mạnh Hùng, RFA 8.4.04

5. Quyết định mới đây của IMF ngưng việc tài trợ cho VN v́ Hà nội không minh bạch trong công tác tài chánh chỉ là một thí dụ điển h́nh.

6. Trần Bạch Đằng, trong „Ư kiến phát biểu của các đồng chí cách mạng lăo thành về dự thảo báo cáo „phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân v́ „dân giầu, nước mạnh, xă hội công bằng, dân chủ, văn minh.“Xem phần Tài liệu trong DC&PT số này.

7. Mai Chí Thọ, như trên

8. Sài g̣n giải phóng ngày 7.4.04

9. Nguyễn Phú B́nh, Chính sách đối với người Việt ở nước ngoài: Mạnh dạn, thông thoáng và toàn diện hơn, như trên.