Tại sao có nước nghèo nước giầu

và tại sao Việt-Nam nghèo ?

 

  NGUYỄN QUỐC KHẢI

 


 

T́nh trạng nghèo đói và khác biệt giầu nghèo gia tăng ở trên thế giới nói chung và ở Việt-Nam nói riêng là hai đề tài làm cho nhiều nhà xă hội học và kinh tế gia lưu tâm. Nguồn gốc sâu sa của căn bệnh này không có ǵ khác hơn là văn hóa, tức là những năng khiếu và tập quán thụ đắc bởi mỗi dân tộc, một tập thể con người sống chung lâu đời trong cùng một xă hội. [1]  Yếu tố văn hóa gián tiếp và lặng lẽ ảnh hưởng đến cách suy nghĩ và quyết định của những người có quyền thế trong mọi lănh vực và phản ứng của những thành phần bị trị trong quốc gia đó.  Muốn tiến bộ phải cải tiến văn hoá, vứt bỏ những cái xấu, bảo tồn những di sản đẹp, và tiếp thụ những cái hay của những nền văn hoá mới.

 

Căn bệnh nghèo đói c̣n có những nguyên nhân trực tiếp như thể chế chính trị, chính sách kinh tế, xă hội và giáo dục của mỗi quốc gia.  Nếu một dân tộc có một bản chất vững mạnh, một nhân sinh quan đúng đắn, dân tộc đó có thể vượt qua được những hoàn cảnh khó khăn và những nguyên nhân trực tiếp của sự nghèo đói. Bài viết này sẽ lần lượt thảo luận về mức độ và những nguyên do sâu sa và trực tiếp gây ra cách biệt giầu nghèo và sự nghèo đói.

 

T́nh trạng cách biệt giầu nghèo trên thế giới

 

Dân số trên thế giới là 6 tỉ người. Trong số đó có khoảng 2.8 tỉ người sống với lợi tức trung b́nh dưới 2 Mỹ kim mỗi ngày và 1.2 tỉ người sống với lợi tức đưới 1 Mỹ kim mỗi ngày.  Khoảng 44% số người nghèo này hiện nay sống ở vùng Nam Á châu. Khoảng 50% số trẻ em sống ở các nước nghèo bị thiếu dinh dưỡng. Trong khi đó tại các nước giầu tỉ lệ này dưới 5%. Khoảng 20% trẻ em không sống quá 5 năm tại những nước nghèo so với 1% tại những nước giầu.  Lợi tức trung b́nh của 20 nước giầu nhất thế giới gấp 37 lần 20 nước nghèo nhất. Mặc dầu những tiến bộ về kỹ thuật viễn thông, Internet và điện tử đă đạt được trong thời gian gần đây, sự cách biệt giầu nghèo này đă tăng gấp đôi trong bốn thập niên vừa qua.

 

Xét từng khu vực người ta nhận thấy Đông Á là vùng duy nhất trên thế giới tương đối thành công trong việc xoá đói giảm nghèo. Trong khoảng thời gian từ 1987 đế 1998, số người có lợi tức trung b́nh dưới 1 Mỹ kim mỗi ngày giảm 33% xuống c̣n 280 triệu người. Trong khi đó số người nghèo lại gia tăng ở Nam Á, vùng sa mạc Sahara của Phi châu và châu Mỹ Latin. Mặt khác những nước ở Trung Á và Âu châu đang chuyển đổi từ hệ thống kinh tế chỉ huy qua kinh tế thị trường, số người nghèo gia tăng 20 lần. [2]  Phần lớn những nước này là những nước kỹ nghệ khác với hai nước nông nghiệp ở Á châu là Trung quốc và Việt-Nam.

 

Cách biệt giầu nghèo cũng rất trầm trọng ở ngay tại mỗi quốc gia giữa những vùng khác nhau và giữa những nhóm người khác nhau. Các sắc tộc thiểu số, phụ nữ, dân ở nông thôn và những người di cư bừa băi về thành phố và không có chỗ ăn ở nhất định là những loại người bị thiệt tḥi nhất. Việt-Nam đang gp những khó khăn tương tự.

 

V́ sao có sự khác biệt giữa các nước giầu và các nước nghèo ?

 

Chắc chắn không phải là v́ tuổi tác của những quốc gia này. Trước nhất chúng ta hăy xem xét một số nước trên thế giới. Việt-Nam và Trung quốc đă có trên 4,000 năm. Ấn độ và Ai cập đă thành lập trên 2,000 năm. Nhưng đây lại là những nước nghèo. Mặt khác, Hoa-kỳ, Canada, Úc đại lợi, và Tân tây lan là những nước chỉ mới thành lập dưới 250 năm nay nhưng lại ở trong những nước giầu nhất thế giới. Israel  mới lập quốc vào năm 1948 tại phần đất Palestine. Dân số là 6.1 triệu người trong đó 80% theo đạo Do thái và 14.6% theo Hồi giáo. [3] Hàng năm Israel nhận từ 3 tỉ - 5 tỉ Mỹ kim tiền viện trợ của Hoa-kỳ. Tuy là một quốc gia trẻ trung, nhưng sau một nửa thế kỷ Israel đă mau chóng trở thành một quốc gia giầu có với lợi tức trung b́nh mỗi đầu người tính theo măi lực quân b́nh (purchasing power parity GDP) là 19,500 Mỹ kim. East Timor là một quốc gia mới nhất, thành lập vào năm 2002, với dân số vỏn vẹn có khoảng 1 triệu người. Trong đó 80% theo Công giáo (Roman Catholic Church). East Timor là một trong những nước nghèo nhất thế giới với lợi tức trung b́nh hàng năm mỗi đầu người tính theo măi lực quân b́nh là 500 Mỹ kim.

 

Sự khác biệt giầu nghèo có phải

v́ nguồn tài nguyên thiên nhiên của các quốc gia không ?

 

Câu trả lời là không nhất thiết phải như thế. Thật vậy, dân Iraq sống trên mỏ dầu lớn thứ nh́ trên thế giới với số dầu dự trữ ước tính là 114 tỉ thùng [4], gần bằng 43.5% số dầu dự trữ lớn nhất thế giới ở Saudi Arabia. Nhưng mức sống không hơn ǵ dân Việt-Nam bao nhiêu. Tổng sản lượng nội địa mỗi đầu người theo măi lực quân b́nh của Iraq là 2,400 Mỹ kim, so với con số của Việt-Nam là 2,300 Mỹ kim. [5]

 

Trái lại, Nhật bản đất hẹp dân đông. Từ cuối thế kỷ 19 nước Nhật đă biết mở rộng cửa để buôn bán và tiếp thụ kỹ thuật Tây phương nên đă mau chóng trở thành một cường quốc và nay là một trong những nước giầu nhất thế giới.  Tổng số diện tích của Nhật bản là 377,835 Km2, hơi nhỏ hơn tiểu bang California. Khoảng 12.1% đất đai là có thể trồng trọt được. Phần c̣n lại là đồi núi. Tuy nhiên, Nhật bản có 127 triệu dân, gần gấp 4 lần dân số của California. Mỗi năm Nhật bản có khoảng 1,500 trận động đất (phần lớn là những chấn động nhỏ).  Nước Nhật hầu như không có một khoáng sản nào cả. Quốc gia này phải nhập cảng mọi nguyên liệu từ cát, sắt thép phế thải, cho đến dầu thô và thực phẩm từ khắp nơi trên thế giới và sản xuất các sản phẩm chế biến để xuất cảng đến hầu hết mọi quốc gia.  Người ta thấy ngay trên đất Mỹ cách xa Nhật một nửa ṿng trái đất, những dụng cụ khổng lồ dùng trong kỹ nghệ xây cất và nông nghiệp nặng cả ngàn tấn, mang các nhăn hiệu như Komasu, Hitachi, Mitsubishi, Kubota và Shibaura.

 

Nước Nhật bại trận trong Thế chiến thứ hai. Nhưng chỉ trong một phần tư thế kỷ, nước Nhật đă hồi phục với sự quyết tâm của nhân dân Nhật và sự giúp đỡ của Hoa-kỳ. Ngày nay nước Nhật là cường quốc kinh tế thứ hai trên thế giới với tổng sản lượng nội địa trên căn bản măi lực quân b́nh là 3,651 tỉ Mỹ kim, chỉ đứng sau nước Mỹ. Tài sản quư giá nhất của nước Nhật là 127 triệu dân trong đó có 99% là người Nhật và phần c̣n lại gồm người Hàn quốc và Trung Hoa. Khoảng 84% dân Nhật theo cả hai tôn giáo là Shinto và đạo Phật và một số ít theo Thiên chúa Giáo (christians kể cả Roman catholics).

 

Thụy sĩ là một thí dụ khác. Tổng số diện tích của quốc gia này là 41,300 Km2, tương đương với 12.5% diện tích của Việt-Nam. Tuy nhiên đất đai trồng trọt của Thụy sĩ được chỉ bằng 10% tổng số diện tích. Không những thế, Thụy sĩ không có đường thông thẳng ra biển và hoàn toàn bị bao vây bởi năm quốc gia khác là Đức, Áo, Pháp, Ư và Liechtenstein.  Dân số của Thụy sĩ là 7.3 triệu gồm 3 sắc dân chính là Đức, Pháp, và Ư.  V́ những giới hạn về thời tiết và đất đai, nông dân Thụy sĩ chỉ có 4 tháng để trồng trọt và chăn nuôi gia súc ngoài trời. Tuy nhiên, Thụy Sĩ sản xuất kẹo xúc cù là và sữa ḅ ngon nhất thế giới. Ngoài ra, quốc gia này c̣n có những sản phẩm công nghệ tinh xảo mà không một ai trên thế giới có thể sánh kịp: đồng hồ, dao kéo, dụng cụ làm vườn, dụng cụ khoa học chính xác và hóa phẩm. Dịch vụ ngân hàng tân tiến của Thụy sĩ đă thu hút rất nhiều ngoại tệ từ mọi nơi trên thế giới nhờ danh tính của khách hàng và nguồn gốc của tiền tệ được bảo vệ tối đa. Tổng sản lượng nội địa tính theo măi lực quân b́nh của Thụy sĩ là 233 tỉ Mỹ kim. Con số tương đương tính theo đầu người là 32,000 Mỹ kim, cao hơn hết các nước ở Âu châu, kể cả Đức và chỉ thua Hoa-kỳ.

 

Ḥa lan là một nước rất nhỏ ở Âu châu nhưng cũng đáng chú ư, với dân số là 16 triệu người và diện tích là 41,500 Km2 mà một phần nằm dưới mặt nước biển, nên máy bơm phải hoạt động 24 giờ mỗi ngày và 7 ngày mỗi tuần để bơm nước ra khỏi phần đất này.  Đất trồng trọt được chỉ chiếm có 26.5%, tuy nhiên Ḥa-lan nổi tiếng về kỹ nghệ nông nghiệp. Quốc gia này xuất cảng hoa tươi, hạt giống và các nông phẩm chế biến đi khắp thế giới. Ngoài ra, Ḥa Lan c̣n sản xuất dụng cụ kim loại, máy móc điện và điện tử, hóa phẩm. Kỹ nghệ xây cất của Ḥa lan rất mạnh.  Tổng sản lượng nội địa cho mỗi người (GDP tính theo măi lực quân b́nh) là 27,200 Mỹ kim.

 

Chúng ta chắc chắn phải nghĩ ngợi rất nhiều về những nước nhỏ như Bỉ, Đan mạch, Ḥa lan, Thụy sĩ, Tân gia ba, và Tân tây lan với dân số cộng lại chỉ bằng 60% dân số của Việt-Nam mà phải viện trợ cho một quốc gia với 80 triệu dân.

 

Sự khác biệt giầu nghèo có phải

v́ sự chênh lệch về kiến thức hay không ?

 

Yếu tố này hẳn có ảnh hưởng đến vấn đề giầu nghèo. Người có kiến thức rộng, học lên tŕnh độ cao, ra trường thường có việc làm tốt. Tuy nhiên trên b́nh diện quốc gia, yếu tố này cũng không có một tầm quan trọng đặc biệt. Ấn độ, Trung quốc, Việt-Nam sản xuất rất nhiều nhà trí thức, khoa học gia mà kiến thức của họ không thua ǵ những đồng nghiệp của họ ở những nước Tây phương. Những quản trị gia của các nước giầu nhận định rằng, không có sự khác biệt sâu xa về kiến thức của những đối tác viên của họ tại những những nước nghèo và thường những chuyên viên ngoại quốc lại phải học hỏi kinh nghiệm địa phương từ những chuyên viên bản xứ.  Điều này rất là tự nhiên v́ sự khác biệt về văn hóa và ngôn ngữ.

 

Phần lớn những phát minh khoa học trên thế giới từ trước đến nay đều do những người Mỹ, Đức, Pháp, Anh, Thuỵ sĩ, và Ư thực hiện.  Phát minh mới cần rất nhiều thời gian. Tuy nhiên học hỏi những tiến bộ về khoa học và kỹ thuật ngày nay không phải là một vấn đề khó khăn. Người Nhật và Đaị Hàn và hiện nay là Trung quốc đă mau chóng hấp thụ và áp dụng những tiến bộ khoa học vào bộ máy sản xuất của họ.  Ngoài ra, chính sách đầu tư nước ngoài đă giúp cho việc chuyển giao kỹ thuật cho các nước chủ trở nên dễ dàng. Thêm vào đó, hàng năm cả trăm ngàn sinh viên từ các nước Á châu, Phi châu, Châu Mỹ Latin du học tại các cường quốc kỹ nghệ. Không những các sinh viên này học về những môn khoa học và kỹ thuật mà c̣n cả về những ngành quản trị, kinh tề và tài chánh nữa. Với các phương tiện thông tin tân tiến hiện nay, kiến thức được phổ biến rộng răi trên khắp thế giới.  Sự cách biệt về kiến thức ngày càng thu hẹp.

 

Sự khác biệt giầu nghèo có phải

v́ sắc tộc hay mầu da hay không ?

 

Yếu tố này cũng không có ǵ vững chắc cả.  Một cách tổng quát người ta nhận thấy những quốc gia ở Bắc Mỹ và châu Âu là những nước giầu hơn cả. Mặt khác, những nước ở Phi châu tương đối nghèo nhất, rồi đến các nước Á châu, Trung và Nam Mỹ.  Nhưng không phải nước nào ở Âu châu cũng giầu có.  Liên bang Nga, Serbia – Montenegro và Moldova là những nước nghèo. Mặt khác không phải nước nào ở Á châu cũng nghèo. Nhật bản, Đài loan, Nam Hàn, và Tân gia ba là những nước giầu.  

 

Nh́n về Tây bán cầu, từ Mexico trở xuống Cape Horn ở cực nam, không kể Virgin Islands và Puerto Rico của Hoa-kỳ, tổng sản lượng nội địa hàng năm cho mỗi đầu người tính theo măi lực quân b́nh của những quốc gia trong vùng này ở trong từ khoảng 1,400 Mỹ kim tới 11,000 Mỹ kim. Nhưng có nước tương đối giầu hơn là Barbados và Bahamas. Đây là hai nước nhỏ mà đa số là dân da đen với tổng sản lượng nội địa theo măi lực quân b́nh trung b́nh hàng năm cho mỗi người là 15,000 Mỹ kim.

 

Như vậy người ta có thể kết luận rằng dân thuộc sắc tộc sống ở miền Bắc thường giầu có hơn dân thuộc sắc tộc sống ở miền Nam được không ? Nói một cách tổng quát, cách phân biệt này có phần đúng. Các nhà kinh tế học thường hay dùng đến danh từ “North-South Trade” để chỉ sự buôn bán giữa hai khối giầu và nghèo. Nhưng xét kỹ hơn cũng có một số trường hợp không theo định luật này. Liên bang Nga, Mongolia, và Trung quốc ở miền cực Bắc, nhưng là những nước nghèo. Nếu so sánh những quốc gia lân bang với nhau, người ta cũng thấy có những nước miền Bắc nghèo hơn nước láng giềng ở phương Nam như Bắc Hàn so với Nam Hàn, Miến điện so với Thái lan, Bắc Việt so với Nam Việt (trước 1975), Nepal so với Ấn độ, hoặc Afghanistan so với Pakistan.  Úc và Tân tây lan ở miền Nam bán cầu là hai trường hợp đặc biệt v́ công dân của hai nước này phần lớn thuộc gốc người miền Bắc là Anh quốc.

 

Biết bao nhiêu người ở Việt-Nam di cư sang Hoa-kỳ, Canada, Úc châu và Âu châu trong thập niên 70-90 đă thành công hơn người bản xứ trung b́nh trong một thời gian rất ngắn. Đa số có một đời sống tương đối đầy đủ, trái hẳn với đời sống của họ trước đây ở Việt-Nam.  Những cơ hội ở quê hương mới đă giúp những lớp di dân này tận dụng được tiềm năng của họ và thăng tiến nhanh chóng trong xă hội mới với một nền văn hóa mới. Xă hội cũ, nền văn hóa cũ cộng với thể chế chính trị và kinh tế thui chột đă làm cho dân tộc sống trong đó không sao ngoi lên được.  Trước khi lớp nguời Việt-Nam đặt chân đến Hoa-kỳ hàng loạt, đă có những người Trung Hoa, Nhật bản, Hàn quốc, Phi luật tân, Ấn độ di dân qua Mỹ. Những lớp người này và con cháu họ tiếp tục thành công ở Hoa-kỳ.

 

Thể chế chính trị

có ảnh hưởng đến sự giầu nghèo không ?

Kinh tế gia đoạt giải Nobel người Ấn độ Amartya Sen nghiên cứu về nghèo đói và dân chủ đă đưa ra một lời tuyên bố nổi tiếng: “Không bao giờ có một nạn đói nào đáng kể xẩy ra ở một nước độc lập, dân chủ và có tự do báo chí” [6]. Nhân loại đă chứng kiến nhiều nạn đói khủng khiếp, nhưng hầu hết xẩy ra dưới những chế độ độc tài: (1) Ireland dưới sự đô hộ độc đoán của người Anh (1845-1850). Hậu quả: 1 triệu ngưới Ái nhĩ lan chết và 2 triệu người di dân qua Mỹ châu; (2) Nga sô dưới chế độ Cộng sản và hạn hán (1921). Hậu quả: 5.1 triệu người chết; (3) Ukraine do kế hoạch nông trường tập thể của Cộng sản Liên sô (1932-1933). Hậu quả: 7-10 triệu người chết; (4) Ethiopia dưới chế độ Cộng sản và hạn hán (1984-1985). Hậu quả: 8 triệu người chết; (5) India: liên tục trong thời gian người Anh chiếm đóng cho tới khi Ấn độ được độc lập vào năm 1947; (6) Trung Quốc do kế hoạch “Bước nhẩy vọt” (1958-1961). Hậu quả: 30 triệu người chết; (7) Somalia dưới chế độ độc tài (1992). Hậu quả: 1.5 triệu người chết đói; (8) Bắc Hàn dưới chế độ Cộng sản (1996 đến nay).

Riêng tại Việt-Nam nạn đói xẩy ra hai lần kể từ Đệ nhị Thế chiến đến nay: (1) dưới sự đô hộ tàn bạo và độc tài của quân phiệt Nhật và thực dân Pháp (1945). Hậu quả: một triệu người chết; (2) trong thời kỳ kinh tế xă hội chủ nghĩa (1975-1986). Kết quả: nạn đói đe dọa từ Bắc vào Nam, trầm trọng hơn hết là những vùng núi xa xôi hẻo lánh. Nhà nước phải lên tiếng kêu gọi Liên hiệp quốc giúp thực phẩm và một triệu người vượt biên. [7]

Chế độ chuyên chính vô sản và hệ thống kinh tế chỉ huy tại những nước Cộng sản đă làm cho hầu hết những nước này trở nên nghèo đói. Nổi bật nhất là Liên bang Sô viết và Đông Đức. Một số các nước cộng sản trước đây sau khi trở thành những nước tự do dân chủ đă trở nên giầu có hơn trong hơn một thập niên vừa qua: Czech Republic, Estonia, Poland, Hungary, Slovakia, và Slovania. Trung quốc và Việt-Nam một mặt cải tổ kinh tế, mặt khác vẫn chủ trương độc tài về phương diện chính trị. Chế độ kinh tế chỉ huy tuyệt đối đă được hủy bỏ nhưng nhà nước vẫn chủ trương đóng một vai tṛ chủ đạo trong nền kinh tế. Tham nhũng, hiệu năng thấp kém, và khu vực tư nhân bị đối sử phân biệt là những hàng rào cản cho sự phát triển. Mức sống của dân chúng đă được cải thiện một phần nhưng quá chậm chạp và mất quân b́nh. Sự chênh lệch giầu nghèo mỗi ngày một gia tăng. Cả thế giới chỉ c̣n hai nước duy nhất c̣n tuyệt đối trung thành với chế độ chuyên chính vô sản là Cuba và Bắc Hàn. Tổng sản lượng nội địa cho mỗi người tính theo măi lực quân b́nh của Cuba là 2,700 Mỹ kim cao hơn Việt-Nam chút đỉnh. Bắc Hàn là một trong những nước nghèo nhất thế giới với tổng sản lượng nội địa cho mỗi người là 1,000 Mỹ kim.

 

Văn hóa có tạo ra

sự khác biệt giầu nghèo không ?

 

Ảnh hưởng của văn hóa trên mức giầu nghèo của các quốc gia đă được đề cập sơ qua ở một phần trên. Vấn đề văn hóa được thảo luận kỹ hơn ở phần này v́ đây là một yếu tố quan trọng và là chủ điểm của bài viết. Văn hóa và giáo dục tạo cho mỗi dân tộc một triết lư, một nhân sinh quan về cuộc sống và một số kiến thức để thực hành triết lư đó. Từ thế kỷ này qua thế kỷ khác, văn hóa đặc thù của mỗi dân tộc trở thành một di sản của dân tộc đó. Nó vô h́nh chung điều khiển cách suy nghĩ và lối hành động của mỗi thành phần sống trong xă hội. Thật là cực kỳ khó khăn nếu chúng ta muốn cải tiến văn hóa tức là thay đổi cách suy nghĩ và những thói quen lâu đời.

 

Yemen là một nước Hồi giáo ở Trung Đông. Đàn bà Yemen thường phải ở nhà. Khi ra đường họ phải che mặt chỉ để hở hai con mắt. Đặc biệt đàn bà con gái Yemen không được làm ở những nơi như khách sạn, quán ăn, cơ sở du lịch, ca nhạc giải trí, v.v. Do đó để cung cấp những dịch vụ này, chính phủ Yemen phải cho nhập cảnh những đàn bà ở các nước khác mặc dù vào thập niên 90, nạn thất nghiệp của Yemen ở vào khoảng 20-30%. Đàn ông Yemen lại thích nhai một loại lá có chất kích thích gọi là “khat”.  Khoảng một giờ sau khi chất “khat” thấm vào người rồi, không ai muốn làm việc nữa. Chất “khat” c̣n làm cho người ta không cảm thấy đói.  Ngoài ra, v́ bán lá “khat” có lợi tức cao, nên nông dân dành một số đất để trồng “khat” thay v́ trồng thực phẩm, trong khi đất đai ở Yemen rất hiếm v́ phần lớn là sa mạc. Văn hoá hiển nhiên ảnh hưởng đến kinh tế của mọi quốc gia. 

 

Trước đây đă có người hô hào dân Việt-Nam bỏ tục lệ đốt vàng mă v́ nó vô nghĩa và phí phạm tài nguyên. Nhưng sau gần một nửa thế kỷ, tục lệ đó vẫn c̣n. Một thí dụ khác là lên đồng, một h́nh thức tế lễ của Lăo giáo. Có một thời gian lên đồng bị coi như một hủ tục. Nhưng lại có người cho lên đồng là một đặc sản của nền văn hóa Việt-Nam và là một sinh hoạt có tính cách dân gian. Những người theo nâng tục lệ này thành một tôn giáo và gọi là đạo Mẫu. Một số người ngoại quốc nghiên cứu văn hoá Việt-Nam gọi sinh hoạt thờ Bà Chúa Liễu Hạnh này là đạo Bản địa Việt-Nam. Đây là một bằng chứng rằng vai tṛ của phụ nữ Việt-Nam được đề cao một cách độc đáo trong xă hội trọng nam khinh nữ dưới sự ngự trị của Nho giáo. Bởi vậy mới có hai câu “Lên đồng sướng hơn lấy chồng làm quan.” và “Tháng Bẩy giỗ Cha (Đức Thánh Trần Hưng Đạo), tháng Ba giỗ Mẹ (Đức Thánh Mẫu Lữ Hạnh). [8] Tục lệ lên đồng vẫn tồn tại ở Việt-Nam và nay c̣n được xuất cảng ra nước ngoài theo chân của người di dân Việt-Nam.

 

         Học giả Đỗ Thông Minh phân tách kỹ lưỡng sự liên hệ giữa kinh tế và văn hoá như sau: “Kinh tế bao gồm các yếu tố cụ thể thuộc khoa học tự nhiên, được coi như phần cương kiện (hardware): nhân lực, tri thức, kỹ thuật, tài nguyên và nhất là vốn tức tư bản...Văn hóa bao gồm các yếu tố trừu tượng và phức tạp hơn nhiều, thuộc khoa học nhân văn, được coi như phần nhu kiện (software): tinh thần học hỏi, tinh thần khoa hoc, tinh thần kỷ luật, tinh thần mạo hiểm, tinh thần tích cực, trí thức cho đến quản trị, tiếp thị…và những yếu tố này đôi khi bị chi phối bởi những yếu tố thoạt nh́n có vẻ không liên hệ như phong tục, tập quán...”

 

         “Kinh tế bao gồm các yếu tố được coi như ‘tĩnh', rất dễ chuyển giao và tiếp thu c̣n văn hóa bao gồm các yếu tố được coi như ‘động’, thuộc bản chất con người, có tính cách riêng tư không dễ chuyển giao và tiếp thu. ‘Động-tĩnh’ như cặp lưỡng nhất thể ‘âm-dương’, tương khắc mà tương sinh. Do đó, điểm đáng nói trong tương quan văn hóa và kinh tế là ở chỗ dù có cùng một số vốn, cùng một kỹ thuật, cùng một tài nguyên… nhưng mỗi người hay mỗi quốc gia có cách vận dụng riêng. Do đó mới có khác biệt tư tưởng ‘Đông-Tây’. ‘Đông’ như Trung quốc, Nhật bản, Hàn quốc, Đài loan, Việt Nam… phần lớn chú trọng vào khoa học nhân văn, với sở trường nhẫn nại, cũng như phát huy sức mạnh tập thể trong điều ḥa và tiến tới thăng bằng... ‘Tây’ như Hoa kỳ, Đức, Anh, Pháp… giỏi về khoa học tự nhiên, đề cao tính tự lập và tài năng cá nhân, có tinh thần khai phá, mạnh về sản xuất và quản lư, có tầm nh́n xa và quốc tế…”  Do đó mới có những quyết định khác nhau, cho ra kết quả khác nhau, và mới có nước giàu, nước nghèo. Tóm lại sự khác nhau là do văn hóa.  [9]

 

Một nhà học giả Tây phương đă nghiên cứu về ảnh hưởng của tôn giáo, một phần của văn hóa, đối với đời sống kinh tế của các dân tộc ỡ Âu châu.  Ông nhận xét rằng những nước như Ư, Pháp, Bỉ, Tây ban nha và Bồ đào nha ở miền Nam Âu châu là những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề của Công giáo. Tỉ lệ dân số theo đạo này từ 75% (Bỉ) đến 94% (Portugal và Spain). Theo triết lư của Công giáo, con người không nên chạy theo giầu sang phú quí và nên có một cuộc sống b́nh dị. Trong khi đó những nước ở Trung và Bắc Âu chịu ảnh hưởng nhiều hơn của đạo Tin lành (christian – non Roman catholic) như Anh, Đức, Thụy sĩ, Ḥa lan, Đan mạch, Na-uy, Thụy điển, và Phần lan. Đạo Tin lành khuyến khích người theo đạo làm việc nhiều để có một một cuộc sống tiện nghi thoải mái. Do đó những nước ở Trung và Bắc Âu tương đối có một mức sống cao hơn những nước ở miền Nam Âu châu.  

 

Nh́n trở về châu Mỹ người ta thấy trường hợp Bắc Mỹ và Trung và Nam Mỹ cũng có sự cách biệt giầu nghèo như Trung và Bắc Âu so với Nam Âu, nhưng ở mức độ rộng lớn hơn. Hoa-kỳ và Canada có tỉ lệ dân số theo đạo Tin lành theo thứ tự là 56% và 36%.  Trong khi đó phần lớn dân số tại những nước ở Trung và Nam Mỹ theo Công giáo với tỉ lệ từ 76% đến 96%.  Barbados là một quốc gia đặc biệt nguyên là thuộc địa của Anh quốc. Khoảng 67% dân số của nước này theo đạo Tin lành, chỉ có 4% theo Công giáo. Tổng sản lượng nội địa trung b́nh mỗi đầu người là 15,000 Mỹ kim.  Bahamas nguyên cũng là thuộc địa của Anh quốc. Khoảng 76% dân số theo đạo Tin lành, 19% theo đạo Công giáo. Tổng sản lượng nội địa trung b́nh mỗi đầu người là 15,300 Mỹ kim, hơn hầu hết các nước ở Trung và Nam Mỹ kể, cả Mễ tây cơ, Argentina, Brazil, và Chile. Trong khi đó Haiti là một nước ở Trung Mỹ, cũng cùng gốc da đen Phi châu nô lệ như Barbados và Bahamas, nguyên là thuộc địa của Pháp, với 80% dân số theo Công giáo.  Tổng sản lượng nội địa trung b́nh mỗi đầu người của Haiti chỉ có 1,400 Mỹ kim.

 

Chế độ kinh tế tư bản xuất xứ từ châu Âu vào thế kỷ 16. Max Weber cho rằng người Âu châu, đặc biệt những tín đồ Tin lành, có đúng khả năng và ư chí phù hợp với nền kinh tế tư bản.  Những tín đồ Tin lành làm việc cần cù và có đức tính tiết kiệm. Cho đến nay chế độ kinh tế tư bản đă đánh bại chế độ Cộng sản, phát triển đến hầu hết khắp nơi trên thế giới, ảnh hưởng tới văn hóa ở mỗi địa phương và đồng thời tự thay đổi cho phù hợp với sắc thái của từng địa phương. [10]

         Tiếp tục so sánh các nước Tây phương, GS Tôn Thất Thiện nêu ra một nhận xét của ô. Nguyễn Gia Kiểng: "Trước đây, quốc gia được định nghĩa như một quá khứ chung, ngày nay quốc gia chủ yếu là một tương lai chung.” và GS Thiện nhận định rằng: “Các quốc gia Âu châu, là những quốc gia được coi như tân tiến hạng nhất của thế giới, đă không tiến được v́ người Âu châu hấp thụ một văn hóa nặng về phần bảo tồn quá khứ. Hoa Kỳ đă vượt tới được v́ người Mỹ chấp thu một văn hóa hướng về tương lai. Bí quyết của phát triển, tiến bộ ngày nay là đó. Quá khứ là cái neo, có tác động ŕ chiếc tàu lại, trong khi tương lai là động cơ, có tác dụng đẩy chiếc tàu đi tới.” [11] 

Nhiều kinh tế gia đă nghiên cứu về hiện tượng phát triển kinh tế mạnh mẽ, tiến rất cao trong thời gian rất ngắn của Nhật bản và bốn con rồng Á châu là Tân gia ba, Đài loan, Hồng kông, và Nam Hàn từ giũa thập niên 60 đến giữa thập niên 90. Họ nhận thấy rằng văn hóa của các quốc gia này có một điểm chung là đều chịu ảnh hưởng sâu đậm của Khổng giáo, với một mức độ tương đối ít hơn đối với Nhật bản. Khổng giáo đề cao  trung trực, đức tin, trung thủy, ḥa đồng, hiếu thảo, và trí tuệ. [12]  Những giá trị tốt đẹp này giúp cho hệ thống xă hội và kinh tế của các quốc gia này vận hành một cách trật tự và có hiệu quả.  Trong khi đó Thái lan chịu ảnh hưởng của Phật giáo, Phi luật tân chịu ảnh hưởng của Công giáo và Nam dương chịu ảnh hưởng của Hồi giáo tiến chậm hơn.

 

Các học giả nghiên cứu về Phật giáo nhận xét rằng đạo Phật không mấy ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế ở Á châu. Hy V. Lương nh́n nhận rằng, triết lư của Khổng tử đă chủ yếu định đoạt mô thức kinh tế của Trung quốc, Nhật bản, Hàn quốc, Tân gia ba cũng như Việt-Nam. Ông không đề cập ǵ đến ảnh hưởng của đạo Phật. [13]  Charles Keyes lập luận rằng, Phật giáo đóng góp rất khiêm nhường vào sự bành trướng của nền kinh tế tư bản ở Thái lan qua thỏa hiệp, mơ hồ, và yên lặng (compromise, ambiguity, and silence). [14]

 

Văn hóa ảnh hưởng đến Việt-Nam ra sao ?

 

Quay trở về với Việt-Nam người ta có những nhận xét nào ? Cựu Bộ trưởng Quốc pḥng của Hoa-kỳ Robert McNamara đă nhận định rằng Mỹ thua trong chiến tranh Việt-Nam là v́ sức mạnh văn hóa Việt-Nam. [15] Tuy vậy, văn hóa Việt-Nam, thể hiện ở bản chất của dân tộc Việt, có những cái tốt lẫn những cái xấu như sẽ được phân tách ở phần dưới đây. Văn hóa Việt-Nam chịu ảnh hưởng nặng nề của Phật giáo, Khổng giáo và Lăo giáo. Triết lư của tam giáo này đă ảnh hưởng sâu đậm vào nhân sinh quan của dân tộc Việt-Nam từ vài ngàn năm nay.

 

Phật giáo

 

Phật giáo thịnh hành nhất dưới triều đại nhà Lư (1009-1225) và triệu đại nhà Trần (1225-1400). [16] Nhưng theo sử liệu, Phật giáo được truyền từ Ấn độ đến Việt-Nam vào khoảng 300 năm trước Tây lịch. [17] Triết lư của đạo Phật đă ăn sâu vào văn hoá Việt-nam. Đạo Phật khuyên con người sống thiện, ăn ở đạo đức, bao dung, không ức hiếp ai, không tham sân si. Luật nhân quả của nhà Phật khuyên chúng sinh “ở hiền gập lành” được mô tả bằng hai câu ca dao dưới đây:

 

“Ai ơi hăy ở cho lành,

Kiếp này không được, để dành kiếp sau.”

 

Cuộc đời ngắn ngủi nhưng là một bể khổ. Tu sẽ trở thành Phật và sẽ thoát ra khỏi kiếp luân hồi.  Trái với triết lư của Tây phương, với chủ trương khai phá thiên nhiên để làm cho đời sống mỗi ngày một tiện nghi, đạo Phật khuyên chúng sinh sống ḥa ḿnh với thiên nhiên, không sinh sát. Trái với sự khuyến khích người đời học làm quan và tích cực tham dự vào việc cai trị nước của Khổng giáo, Phật giáo chủ trương tách rời khỏi giới quyền thế. [18]  Lịch sử Việt-Nam đă chứng minh rằng Phật giáo nhập thế, ra tay nghĩa hiệp khi thấy có trách nhiệm với đời, trước một xă hội đảo điên hoặc khi đạo pháp và đất nước lâm nguy.

 

Ḥa thượng Thích Huyền Quang dậy rằng: "Đạo Phật ra đời để cứu khổ cho muôn loài. Đây là bước tiến vĩ đại trong tư tưởng cũng như trong hành động tại xă hội Ấn độ nói riêng, và cho loài người nói chung, cách đây 2544 năm. Giải phóng con người khỏi vô minh, khỏi sự sợ hăi và nô lệ thần linh hay các luồng ư thức hệ cuồng tín, giải phóng con người khỏi sự hà khắc và bất công của mọi hệ thống xă hội. Vào thời đức Phật tại thế, giáo lư đạo Phật đánh đổ mọi học phái thần quyền, mọi chủ nghĩa hư vô, duy vật, hoài nghi, định mệnh, đưa Con Người vào vị thế trung tâm giữa trời đất để giải thoát tự thân và giải phóng tha nhân. Không hề có những yếu tố phi xă hội trong giáo lư đạo Phật, v́ thế người Phật tử luôn tôn trọng và đương đầu bảo vệ con người, chống lại những bất công hay bất b́nh đẳng xă hội, vốn là nguyên nhân chà đạp quyền sống của lương dân, ngăn cản hạnh nguyện tu học để tiến thủ, ngăn cản sự thực hành Từ, Bi, Trí, Lực, theo chí nguyện Bồ tát cứu đời, ngăn cản sự hiện thực Giác ngộ". [19]

 

Khổng giáo

 

Văn hoá Việt-Nam chịu ảnh hưởng sâu đậm của Khổng giáo hay c̣n gọi là Nho giáo. Vua Lê Thánh Tông vào thời Hậu Lê (1428-1527) nâng Nho giáo lên hàng quốc giáo. Nho giáo tiếp tục giữ vai tṛ độc tôn qua đến triều Nguyễn. [20] Nho giáo là một triết lư dậy con người biết cách ăn ở và đối xử với nhau trong xă hội do Khổng Tử và người học tṛ là Mạnh Tử truyền lại trong dân gian. Khổng giáo chủ trương một trật tự xă hội, có trên có dưới rơ ràng. Có “đồng đẳng” rồi mới “b́nh đẳng”.  Về mặt đạo đức, Khổng Tử có những lời khuyên như “Tôn sư trọng đạo”, “Kính lăo đắc thọ”, “Quân vi quân, thần vi thần”, “Tiên học lễ, hậu học văn”, “Trung, hiếu, nhân, nghĩa, lễ, trí, tín”, “Tại gia ṭng phụ, xuất giá ṭng phu, phu tử ṭng tử”, “Công dung ngôn hạnh”. Mạnh Tử cũng lưu truyền lại một vài lời khuyên như “dân vi quư, quân vi khinh”.  Về mặt kinh tế, “dân giầu nước mạnh” là tư tưởng của Khổng Mạnh.  Trong thời loạn lạc trai thiếu gái thừa, và Trung quốc là một xă hội nông nghiệp cần nhân lực để sản xuất, nên Khổng Tử khuyên cho đàn ông lấy nhiều vợ để sinh con đẻ cái nhiều.

 

Triết lư Khổng Mạnh dậy con người tôn trọng tôn ti trật tự sẵn có, phục ṭng người trên và trông đợi kẻ dưới phục ṭng lại ḿnh. Do đó sáng kiến cá nhân không được tôn trọng và tinh thần dân chủ không được khuyến khích. Theo thuyết Thiên mệnh của Khổng Mạnh, mỗi người đều có số mệnh do “trời” định. Tuy nhiên “đức năng thắng số”. Câu này có nghĩa là có “trời” nhưng cũng có “ta” và con người cũng có thể tránh được số mệnh khi ḿnh chưa tới số theo thuyết Nhân Quả Nghiệp Báo của đạo Phật. [21] Câu thơ của cụ Nguyễn Du trong truyện Kiều sau đây mang hai ư nghĩa đó:

 

“Đă mang lấy nghiệp vào thân,

Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa.

Thiện căn ở tại ḷng ta,

Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”.

 

Tâm là của con người, tài do do trời ban cho. Đến thời Tống bên Trung quốc, Nho giáo biến đổi (Tống Nho) đề cao giá trị khoa bảng, khuyến khích lối học từ chương, và mục đích học ra làm quan. Việt-Nam chịu ảnh hưởng khá nặng bởi quan niệm Tống Nho.  Nguyễn Gia Kiểng phê phán rằng kẻ sĩ vẫn là mẫu mực của trí thức Việt-Nam. Nhưng kẻ sĩ là ǵ nếu không phải là một mẫu người tồi hèn, vong thân, chỉ mưu lợi cho chính ḿnh ? Kẻ sĩ cả đời chỉ học được một nghề là nghề qú. Lúc nhỏ th́ qú trước thầy. Khi lớn lên th́ qú trước vua quan. Bằng cấp nói lên một phần ba những ǵ người Pháp biết nhưng đối với người Việt-Nam, nó là ba lần những ǵ họ biết. [22] Nếu trí thức như thế cả th́ đất nước làm sao khá được.

 

Lăo giáo

 

Trái với Khổng Mạnh với sự khuyên dăn con người nhập thế, làm cho xă hội đẹp qua một số nguyên tắc xử thế ở đời, Lăo Tử và người học tṛ là Trang Tử khuyên con người nên xa lánh trần thế, không bon chen, sống nhàn hạ, và cố gắng tu lên cơi tiên. Lăo giáo quan niệm rằng Đạo là nguồn gốc của trời đất. Trên trời c̣n có Đạo. Triết lư căn bản của Đạo Lăo là sự ḥa đồng tự nhiên giữa những mâu thuẫn trong cuộc sống như âm với dương, giữa tăm tối với sáng lạn, giữa hận thù với yêu thương, “hết cơn bí cực tới hồi thái lai”, thời loạn lạc kéo dài rồi cũng sẽ chấm dứt và thời b́nh tự nhiên sẽ tới.  Xây đập ngăn chặn luồng nước chảy là chống lại thiên nhiên. V́ vậy Lăo Tử chủ trương thuyết Vô Vi. Ngài khuyên người đời sống theo luật thiên nhiên và ḥa ḿnh với thiên nhiên.

 

V́ chủ trương theo luật thiên nhiên, những luật lệ do Khổng Tử đặt ra như tam cương ngũ thường, tam ṭng tứ đức không cần thiết v́ thiên nhiên có những nguyên tắc tự nhiên có thể quan sát thấy ở các sinh vật. Đặt ra mẫu mực hẳn hoi mà có người theo được có người không là tạo ra tranh căi và hỗn loạn.  Thiên nhiên cũng có sẵn trật tự tự nhiên rồi. Vạn vật b́nh đẳng và tự do trái với tôn ti trật tự trong xă hội phong kiến do Khổng Tử đặt ra (quân quyền, phụ quyền và nam quyền).  Trái với Khổng giáo và quan niệm của Tây phương, Lăo Tử cho rằng Đạo có nữ tính. Ngài nói về “mẹ của vạn vật” (vạn vật chi mẫu) và “mẹ nuôi muôn loài” (tự mẫu).  [23]

 

Đạo Lăo vận hành theo qui luật phản phục, có nghĩa là mọi sự đi xa rồi đều trở về gốc mà gốc là Đạo. Đối với Đạo Lăo thời gian chuyển biến theo chu kỳ, khác với quan niệm của Tây phương cho rằng thời gian chuyển biến theo một đường thẳng vô tận. Ông khuyên người đời giải quyết những khó khăn ở đời không phải bằng cách cầu nguyện một đấng siêu việt vô h́nh mà bằng cách suy ngẫm nội tâm và quan sát ngoại cảnh. Ngài cũng khuyên người đời nên tu luyện bản thân về cả thể xác lẫn tinh thần để có một cuộc sống an b́nh bằng nghệ thuật tĩnh tâm, châm cứu, thuốc bắc, tài Chi, và vơ thuật.

 

Phật, Khổng, và Lăo giáo xuất hiện tại Trung Hoa và Việt-Nam cùng thời hoặc trước sau không bao lâu và thường cùng tồn tại trong tâm mỗi cá nhân. Ngoài ra Việt-Nam lại bị Trung Hoa đô hộ gần 1,000 năm. Qua ảnh hưởng sâu đậm của “tam giáo”, mà Khổng giáo là mạnh nhất, dân tộc Việt-Nam nói chung có khuynh hướng ưa chuộng một cuộc sống an nhàn, làm đủ ăn, yêu ḥa b́nh, không cực đoan, tâm hồn mở rộng, có tinh thần ḥa đồng tôn giáo, tư tưởng độc lập, coi trọng gia đ́nh, nhân từ, can đảm, chín bỏ làm mười, thông minh, nhưng ít có sáng kiến, thiếu tính thần mạo hiểm và khai phá, trọng văn kinh nghề, đầu óc quan liêu, phong kiến, phục tùng người có địa vị và quyền thế, ích kỷ, thiếu kinh nghiệm làm việc tập đoàn, thiếu tinh thần trách nhiệm, thiếu tự trọng, không biết tôn trọng giờ giấc, ăn xổi ở th́ và khôn vặt. Chính v́ vậy dân tộc Việt-Nam thiếu đoàn kết, thiếu kỷ luật khi sống tập thể, dễ tin, dễ chấp nhận những ǵ du nhập tới. Khi các đạo Công giáo, Tin lành, Baha’i, v.v. du nhập vào Việt-Nam, nhiều người đă theo các tôn giáo mới này.

 

Văn hóa Tây phương

 

Ảnh hưởng của Tây phương đến với Việt-Nam qua sự đô hộ gần 100 năm của người Pháp và sự hiện diện đông đảo của quân đội Mỹ tại miền Nam từ 1962-1973. Với lớp người trẻ đi du học ở nước ngoài càng ngày càng nhiều, ảnh hưởng của văn minh Âu Mỹ dần dần thay đổi lối sống cổ truyền, cách làm việc và lối suy tư của người Việt. Dân tộc Việt hấp thụ được của Tây phương những điều tốt đẹp như ư niệm dân chủ, quyền tự do cá nhân, tinh thần khoa học, óc thực tiễn và tiện nghi vật chất của đời sống văn minh. Tú Xương nhận xét buổi giao thời giữa hai lối học từ chương và học áp dụng bằng hai câu thơ sau đây:

 

“Cái học nhà nho đă hỏng rồi,

Mười người đi học chín người thôi.”

 

Xă Hội chủ nghĩa

 

Chủ nghĩa Cộng sản không ngự trị được ở nhiều nước Á châu như Thái lan, Phi luật tân, Mă lai, Tân gia ba, Miến điện, Nam dương, Ấn độ, Pakistan, Bangladesh, và Tích lan, nhưng đă chiếm trọn vẹn Việt-Nam, Trung quốc và một phần Hàn quốc. Cả ba quốc gia này đều chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của Khổng giáo và ở mức độ ít hơn của Phật giáo. Trong hơn một nửa thế kỷ, chủ nghĩa quốc tế chuyên chính vô sản vô thần đă hủy hoại nhiều giá trị cổ truyền tốt đẹp về con người, gia đ́nh, xă hội và tín ngưỡng ở Việt-Nam. Trong khi đó phẩm chất giáo dục xuống cấp thê thảm. Chính sách cai trị độc đoán đưa đến bất công và tham nhũng. Ưu tiên của nhà nước là duy tŕ quyền lợi và bảo vệ ngôi vị độc tôn của đảng CSVN. Do đó chính sách này đă tạo điều kiện thích hợp để những phó sản tiêu cực của nền kinh tế tư bản xâm nhập vào xă hội Việt-Nam, giống như thời kỳ trên một nửa triệu quân Mỹ có mặt tại miền Nam Việt-Nam. Kết quả là đạo đức suy đồi, giá trị vật chất được đề cao, với hai tính chất nổi bật là sự dối trá và nghi kỵ. Hậu quả sẽ c̣n tiếp tục đến nhiều thế hệ sau.

 

Văn hóa đa nguyên

 

Hiện nay chính sách bóp nghẹt tự do tôn giáo vẫn được áp dụng. Nền văn hoá vô thần và ảnh hưởng tai hại của nó chưa tiêu tan, nhưng sự cáo chung chỉ là vấn đề thời gian. Lúc đó giá trị đạo đức của tam giáo sẽ có khuynh hướng phục hồi ở Việt-Nam. Cũng như trước đó, những giá trị tốt đẹp của văn minh Tây phương được chấp nhận nhưng chỉ bổ túc chứ không thể thay thế ảnh hưởng của tam giáo đă ăn sâu trong tâm hồn dân Việt trên 2,000 năm. Việt-Nam đă kết tụ được nhiều nền văn hoá khác nhau và dung hợp lại thành một nền văn hoá riêng biệt cho ḿnh. Chính v́ vậy mà GS Nguyễn Khắc Kham đă nhận định rằng Việt-Nam có một nền văn hoá đa nguyên với một đặc tính nhất nguyên. [24]  Việt tính làm cho văn hóa Việt-Nam mạnh.  

 

Người Trung Hoa đề cao việc buôn bán qua câu cách ngôn “Phi thương bất phú” c̣n người Việt-Nam coi thường dịch vụ thương mại qua câu: “Sĩ nông công thương”. Thái độ sai lầm như trên là một trở ngại lớn cho sự phát triển kinh tế quốc gia. 

 

Nhà văn hóa học Đỗ thông Minh trong bài “Tự vấn: Người Việt mạnh yếu ở chỗ nào?”  nêu ra một số nhận xét về một số khuyết điểm của người Việt như sau: [25]

 

  1. Đa số trong những người hiếu học mang nặng tinh thần từ chương, quan lại, trọng bằng cấp từ ngàn xưa. Họ học để t́m sự giầu có, phong lưu cho bản thân và gia đ́nh hơn là giúp đời.
  2. Luôn mang nặng t́nh cảm, thiếu lư trí, nặng tinh thần địa phương, tôn giáo.
  3. Thiếu ư chí, thiếu sáng tạo, thiếu nghiên cứu, thiếu mạo hiểm, thiếu tầm nh́n xa, nói dối quanh, ít nhận lỗi, thiếu trật tự, thiếu nguyên tắc, thiếu tôn trọng của công, ăn cắp vặt, tự cao, tự ti, ỷ lại, thù dai, nặng mê tín, mau chán, thiếu tinh thần dân chủ, không giữ lời hứa.
  4. Làm việc tắc trách, năng suất kém.
  5. Ranh vặt, quỷ quyệt, nông nổi, khoác loác, hiếu danh.
  6. Không muốn bất cứ một luật lệ nào rằng buộc.
  7. Sống xa lánh cộng đồng của ḿnh trừ khi gập khó khăn cần giúp đỡ.
  8. Tính xấu chung làm nẩy sinh ra lănh đạo tồi và chia rẽ.

 

Một cuộc so sánh giữa các nước nghèo và các nước giầu cho thấy sự khác biệt căn bản giữa hai nhóm quốc gia là sự khác biệt về thái độ của người dân đối với một số vấn đề liên quan đến đời sống cá nhân và xă hội tại các quốc gia này. Đây là nguyên do chính tạo ra sự cách biệt giầu nghèo. Tại các nước giầu, phần đông dân chúng tuân thủ theo những nguyên tắc sau đây trong đời sống hàng ngày. Trong khi đó ở những nước nghèo chỉ có một thiểu số tuân theo nhửng nguyên tắc này:

 

  1. Nguyên tắc đạo đức.
  2. Sự chính trực.
  3. Trách nhiệm.
  4. Tôn trọng qui tắc và pháp luật.
  5. Tôn trọng quyền của những người khác.
  6. Thích làm việc.
  7. Nỗ lực để tiết kiệm và đầu tư.
  8. Ư chí muốn làm thực hiện dự án lớn.
  9. Đúng giờ.

 

Những nguyên nhân trực tiếp nào gây ra sự nghèo đói ?

 

Văn hóa, hoặc nói với nghĩa hẹp hơn là nhân sinh quan và bản chất của một dân tộc là nguyên nhân sâu xa và quan trọng của sự giầu nghèo. Nhưng yếu tố này lại không dễ nhận biết v́ nó không ngừng ảnh hưởng hàng ngày đến số phận của dân tộc đó từ thế kỷ này qua thế kỷ khác. Nó không trực tiếp gây ra những biến cố hay những thay đổi bất ngờ để có thể thu hút được sự chú ư.  Sự nghèo đói có những lư do trực tiếp của nó. Nếu một dân tộc có một bản chất vững mạnh, một nhân sinh quan đúng đắn, dân tộc đó có thể vượt qua được những hoàn cảnh khó khăn và những nguyên nhân trực tiếp của sự nghèo đói.

 

Một trong những nguyên nhân trực tiếp gây ra sự nghèo đói là chính những nạn nhân của nghèo đói thiếu sức lao động căn bản, không có đủ khả năng nghề nghiệp, sức khỏe và tài nguyên thiên nhiên như đất đai, nước, không có việc làm, không được tiếp cận với những hạ tầng cơ sở, nguồn vốn và dịch vụ xă hội. 

Nguyên nhân trực tiếp thứ hai gây ra sự nghèo đói là “giai cấp” nghèo hoàn toàn không có tiếng nói và bất lực. Thêm vào đó, nhà nước không chú tâm đến họ. Giai cấp nghèo dễ trở thành nạn nhân của các cơ quan công quyền địa phương vá sự bóc lột của những thành phần xă hội khác.  Họ thường bị đối sử bất công v́ không có quyền thế.

 

Nguyên nhân trực tiếp thứ ba của sự nghèo đói là người nghèo không có khả năng chịu đựng những rủi ro bất ngờ. Kinh nghiệm cho thấy rằng, sự phát triển kinh tế liên hệ mật thiết với mức độ nghèo đói. Khi kinh tế của một nước đi xuống, người nghèo bị thiệt hại nhất v́ không có khả năng để chịu đựng những thay đổi như về giá cả và thuế má. Khi kinh tế phát triển, người nghèo không chắc được hưởng kết quả một cách tương xứng nếu chính phủ không thi hành những kế hoạch trực tiếp giúp đỡ người nghèo như phát triển những ngành kỹ nghệ xử dụng nhiều nhân công, đầu tư vào việc giáo dục và huấn nghề và thực hiện những dự án phát triển ngắn và dài hạn trong lănh vực sản xuất và hạ tầng cơ sở ở nông thôn và khu vực nghèo.

 

Kết luận

 

Căn cứ vào sự phân tách khách quan ở phần trên, hiển nhiên Việt-Nam nghèo không phải v́ đất nước chúng ta nhỏ, tài nguyên thiên nhiên ít, hoặc bị thiên tai thường xuyên. Nước Việt-Nam nghèo cũng không phải v́ kiến thức của chúng ta thua kém. Nước Việt-Nam nghèo v́ một nguyên nhân sâu sa là bản chất của người Việt có nhiều khuyết điểm. Chúng ta thiếu một nhân sinh quan đúng đắn và thiếu ư chí để tuân theo những quy luật vận hành mà những nước giầu và phát triển đă xử dụng và nhà nước thiếu những kế hoạch kinh tế hữu hiệu. Trong dài hạn, Việt-Nam muốn vươn lên phải thay đổi văn hóa để loại bỏ những hủ lậu trong xă hội như nhóm Tự Lực Văn Đoàn đă từng làm bằng ng̣i bút, và để chấp nhận những giá trị thực tiễn mới.

 

Thêm vào đó là sự thiếu khôn ngoan của giới lănh đạo quốc gia.  “So sánh vua Tự Đức, cùng triều đ́nh (nhà Nguyễn) của Việt Nam và bà Từ Hy Thái hậu cùng triều đ́nh (nhà Thanh của Trung Hoa) với Minh Trị Thiên hoàng cùng triều đ́nh (Meiji) của Nhật vào đầu hậu bán thế kỷ thứ 19. Tự Đức và Từ Hy Thái hậu đă ngu dốt hơn Minh Trị Thiên hoàng. Cũng như giới lănh đạo cộng sản kể từ Hồ chí Minh cho tới nay đă ngu dốt hơn lănh đạo của những nước chung quanh, v́ đưa dân tộc từ cuộc chiến tranh này tới chiến tranh khác, tưởng rằng thoát khỏi thực dân Pháp th́ được độc lập, nhưng rồi bị lệ thuộc Nga, nay bị lệ thuộc Tàu c̣n thê thảm hơn.” [26]

 

Thật vậy chiến tranh đă kéo dài trên quê hương chúng ta quá lâu. Sau chiến tranh Việt-Pháp để dành độc lập được vài năm là tiếp ngay đến chiến tranh Nam Bắc. Sau khi cuộc chiến này chấm dứt vào năm 1975, lại thêm hai cuộc chiến nữa tại Cao miên (1978-1989) và biên giới Việt-Trung (1979). Ngoài ra, nhà nước Việt-Nam có những chính sách kinh tế sai lầm nghiêm trọng từ 1975 đến 1988 làm cho đất nước thụt lùi trong khi các nước Á châu khác tiến lên dưới một hiện tượng được cả thế giới biết đến gọi là “Phép lạ Đông Á.”[27]

 

Vài năm sau khi băi bỏ chính sách hợp tác hoá nông nghiệp, Việt-Nam đă thành công trong việc xóa đói giảm nghèo. Tỉ lệ số người nghèo đă giảm từ 58% trong năm 1993 xuống c̣n 37% trong năm 1998 và 29% trong năm 2002.  Kết quả này đạt được phần lớn là nhờ chương tŕnh “đổi mới” bắt đầu thực hiện vào năm 1988, dù quá trễ c̣n hơn không. Theo đó chế độ kinh tế thị trường được áp dụng với sự tham gia của cá thể, công ty tư doanh, và đầu tư nước ngoài. Quan trọng nhất là việc ban hành luật Đất đai 1988 và 1993, luật Doanh nghiệp 1999 và luật Đầu tư Nước ngoài 1987.

 

Tuy nhiên mức độ nghèo đói ở Việt-Nam vẫn c̣n sâu rộng. Sự chênh lệch giầu nghèo giữa nông thôn và thành thị tại Việt-Nam ngày càng gia tăng và hiện nay vào khoảng 3.7 lần theo số liệu của chính phủ, nhưng trên thực tế là 10 lần. Ba vùng nghèo nhất Việt-Nam là vùng Núi miền Bắc, Cao nguyên Trung phần c̣n gọi là Tây nguyên và vùng duyên hải Bắc Trung phần. Các nước Nam Hàn, Tân gia ba và Đài loan không những thành công vựợt bực về việc phát triển kinh tế mà c̣n giảm bớt được sự chênh lệch giầu nghèo. Việt-Nam vẫn là một trong những nước có tổng sản lượng nội địa b́nh quân đầu người tính theo măi lực quân b́nh là 2,300 Mỹ kim ở mức thấp nhất thế giới v́ chương tŕnh cải tổ kinh tế “đổi mới” chỉ được thực hiện một cách vá víu. [28]

 

Thật vậy, chính quyền vẫn chủ trương duy tŕ các doanh nghiệp nhà nước, một khu vực thiếu hiệu năng và lỗ nặng. [29]  Khu vực quốc doanh không những không tạo ra nhiều việc làm như khu vực tư nhân mà c̣n xử dụng phí phạm nhiều tài nguyên, Các xí nghiệp quốc doanh không kể các ngân hàng thương maị nhà nước, hiện mang một món nợ khổng lồ là 13.6 tỉ Mỹ kim. [30]  Điều này làm thiệt hại đến các ngành khác như giáo dục. Chính phủ đáng lẽ phải dành ưu tiên cho giáo dục v́ đây là một cách đầu tư lâu dài và quan trọng. Tuy nhiên v́ ngân sách thiếu hụt, nên nhà nước bắt các học sinh các trường tiểu công lập “t́nh nguyện” đóng góp vào “quỹ bảo trợ nhà trường”, tạo thêm gánh nặng cho dân nghèo.  [31] Trẻ em nghèo ở Việt-Nam chỉ hi vọng được học xong bậc tiểu học và trung học. Nhưng trên thực tế, Việt-Nam là một trong bốn nước ở vùng Đông Á mà các học sinh phải trả học phí ở cả hai cấp này. Ba nước kia là Thái lan, Cao miên và Trung quốc. Học sinh mẫu giáo, tùy theo quận huyện, cũng phải đóng học phí từ 1 triệu đến 3 triệu đồng Việt Nam một năm.[32] 

 

Kế hoạch thị trường hoá ngành giáo dục của Việt-Nam thật sự cũng lại bắt chước Trung quốc. [33]  Kết quả là học sinh thuộc gia đ́nh giầu có, thường là con cháu công an, đảng viên, và cán bộ, được học trường tốt và được ưu đăi. Nhiều học sinh con nhà nghèo không có tiền trả học phí phải ở nhà. [34]  Đây là chưa bàn tới phẩm chất của nền giáo dục hiện nay ở Việt-Nam với sách giáo khoa c̣n sặc mùi xă hội chủ nghĩa lỗi thời, nạn thi giùm, chấm thi theo tiêu chuẩn của đảng CSVN, bằng cấp giả, bằng “tiến sĩ nhân dân”. Trường Đại học Quốc gia ở Hà-nội, một trường khá nhất của Việt-Nam, mới đây bị xếp vào hạng 62 trong 65 trường đại học ở Á châu. [35]  Đâu là công bằng xă hội ?. Đâu là kế hoạch phát triển quốc gia trường kỳ ? Nếu đă chủ trương theo đuổi một nền kinh tế theo định hướng xă hội chủ nghĩa mà nhà nước lại bỏ rơi đa số dân nghèo th́ đây là những nghịch lư lớn lao.

 

Kết quả của cuộc điều nghiên mới nhất về chỉ số tự do kinh tế của 155 nước do Heritage Foundation và Wall Street Journal thực hiện cho thấy Việt-Nam được xếp hạng 141 và vẫn bị coi là một trong những nước “hầu hết mất tự do” (mostly unfree). T́nh trạng tự do kinh tế của Việt-Nam trong năm 2003 trở nên tồi tệ hơn so với năm 2002, trong khi phần lớn các quốc gia khác đạt được tiến bộ tích cực trong lănh vực này. [36]   Càng bị g̣ bó kinh tế càng khó phát triển. Để thoát khỏi sự nghèo đói và tụt hậu so với các nước láng giềng, Việt-Nam cần phải ưu tiên phát triển hai khu vực nông thôn và tư doanh, cải tổ thật sự khu vực quốc doanh, giảm bớt sự can thiệp của nhà nước vào kinh tế, thực hiện những dự án giúp tạo việc làm cần nhiều nhân công tại nông thôn và đặc biệt tại các vùng nghèo nhất nước và cải thiện những chương tŕnh an sinh xă hội.  Tham nhũng, bất công, bưng bít thông tin, và khả năng cạnh tranh thấp là những hệ quả của một thể chế chính trị độc đoán, đă và đang tiếp tục cản trở việc phát triển toàn diện của đất nước.  Do đó song song với sự cải tổ sâu rộng hơn về mặt kinh tế, Việt-Nam phải thực hiện những cải tổ về chính trị. 

 

Tại sao những nhà cầm quyền ở Hà-nội chưa hành động trước những nguy cơ to lớn và hiển nhiên cho đất nước như thế ? Kiến thức không phải là vấn đề, v́ Việt-Nam hiện nay có những chuyên viên tài giỏi ở trong nước dù chưa nhiều và các cơ quan quốc tế luôn luôn sẵn sàng giúp đỡ. Lư do chính là ư thức hệ cổ lỗ sĩ, một phần của văn hóa, nó chưa chịu thay đổi. Việt-Nam vay mượn văn hóa của Trung Quốc nên cách suy nghĩ và hành động cũng giống nhau. [37] Các nhà lănh đạo Hà-nội phải chờ vua quan ở Bắc kinh hành động rồi mới làm theo. Xưa (triều đ́nh nhà Nguyễn và triều đ́nh nhà Thanh) và nay (CSVN và CSTQ) cũng vậy hay sao ?

Mong rằng chúng ta cùng nghiên cứu lại lịch sử, nh́n cái gương của Vua Tự Đức và Từ Hy Thái hậu để mau chóng giải phóng đất nước ra khỏi t́nh trạng tụt hậu trong suốt 150 năm qua.  Quốc nạn này không thể kéo dài hơn. ♣

 

Chú thích:


 

[1]  Theo định nghĩa của nhà nhân chủng học Anh Edward Tyler, trích từ Lâm Lễ Trinh, “Tận dụng văn hoá để đấu tranh cho dân chủ,” Thuỷ Hoa Trang, California: 10.9.2000.

[2] World Bank, “World Development Report 2000/2001 – Attacking Poverty,” Washington, DC: 2001.

[3] Tất cả những số liệu về tổng sản lượng nội địa, dân số, diện tích và tôn giáo dùng trong bài viết này đều liên hệ với năm 2002 và lấy từ tài liệu “World Factbook 2003” do cơ quan CIA soạn và lưu trữ trên mạng lưới www.cia.gov.

[4]  Mỗi thùng (barrel) chứa 42 gallons dầu thô.

[5]  Tổng sản lượng nội địa (không tính theo căn bản măi lực quân b́nh) cho mỗi đầu người là 430 Mỹ kim vào năm 2002.

[6] Amartya Sen and Amartya K. Sen, “Poverty and Famines – an Essay on Entitlement and Deprivation”, Oxford University Press, London, 1983.

[7]  Nguyễn Quốc Khải, “Liệu cải tổ kinh tế và mở cửa buôn bán với thế giới sẽ mang lại tự do dân chủ cho Việt-Nam hay không?” Thế Kỷ 21, số 176, Westminster, California: December 2003.

[8]  Nguyễn Đ́nh Phúc, “Một cái nh́n về việc thờ Tứ Phủ,” Hành Chánh Miền Đông, số 5, Falls Church, Virginia: 2003.

[9]  Đỗ Thông Minh, “Vai tṛ văn hoá trong phát triển quốc gia,” Đông kinh: tháng 11, 2003. Tài liệu này đă được thuyết tŕnh tại Conference on Sustainable Development in Vietnam do University of Maryland và Hội Chuyên Viên Việt-Nam tại Hoa-Kỳ tổ chức vào 13.11.2003 tại University of Maryland, College Park, U.S.A.

[10]  Timothy Brook and Hy V. Luong, “Introduction: Culture and Economy in the Postcolonial World” in Culture and Economy – the Shaping of Capitalism in Eastern Asia, eds. Timothy Brook and Hy V. Luong, University of Michigan Press, Ann Arbor: 2002. 1-21.

[11]  Tôn Thất Thiện, “Văn Hóa Và Sự Giàu Mạnh Của Các Nước: Trường Hợp Hoa Kỳ, Xứ Đàng Trong Và Việt Nam Xă Hội Chủ Nghĩa.” Canada: 11.6.2003.

[12] Tae-Kyu Park, “Confucian Values and Contemporary Economic Development in Korea,” in in Culture and Economy – the Shaping of Capitalism in Eastern Asia, eds. Timothy Brook and Hy V. Luong, University of Michigan Press, Ann Arbor: 2002. 125-136.

[13]  Hy V. Luong, “Capitalism and Noncapitalist Ideologies in the Structure of Northern Vietnamese Ceramics Enterprises” in Culture and Economy – the Shaping of Capitalism in Eastern Asia, eds. Timothy Brook and Hy V. Luong, University of Michigan Press, Ann Arbor: 2002. 187-206.

[14]  Timothy Brook and Hy V. Luong, “Introduction: Culture and Economy in the Postcolonial World” in Culture and Economy – the Shaping of Capitalism in Eastern Asia, eds. Timothy Brook and Hy V. Luong, University of Michigan Press, Ann Arbor: 2002. 1-21.

[15]  Trần Khuê và Nguyễn Thị Thanh Xuân, “Đôi điều về văn hoá,” Trung Tâm Hán Nôm, thành phố HCM: 7.7.1998.

[16]  Neil L. Jamieson, “Understanding Vietnam,” University of California Press, Berkeley: 1995. 1-41.

[17]  Hoà Thượng Thích Thắng Hoan, “Đặc điểm của văn hóa Phật giáo trong văn hóa Việt-Nam,” Bài thuyết tŕnh tại Đại Hội Văn Hóa Phật Giáo, San Diego: 7.1.2003.

[18] Timothy Brook and Hy V. Luong, “Introduction: Culture and Economy in the Postcolonial World” in Culture and Economy – the Shaping of Capitalism in Eastern Asia, eds. Timothy Brook and Hy V. Luong, University of Michigan Press, Ann Arbor: 2002. 1-21.

[19] Trích Thông Điệp Hướng về Thế Kỷ 21, tháng 2, 2001 của Đại Lăo Hoà Thượng Thích Huyền Quang.

[20]  Phạm văn Diệu, “Văn Học Việt-Nam”, Tân Việt, Saigon: 1957. 72-88; 403-408.

[21]  Hoà Thượng Thích Thắng Hoan, “Đặc điểm của văn hóa Phật giáo trong văn hóa Việt-Nam,” Bài thuyết tŕnh tại Đại Hội Văn Hóa Phật Giáo, San Diego: 7.1.2003.

[22]  Nguyễn Gia Kiểng, “Tổ Quốc Ăn Năn,” tự xuất bản, Paris: 2001. 51-54.

[23]  Nguyễn Hiến Lê, “Lăo Tử Đạo Đức Kinh,” Văn Hoá, 1977.

[24]  Lâm Lễ Trinh, “Tận dụng văn hoá để đấu tranh cho dân chủ,” Thuỷ Hoa Trang, California: 10.9.2000.

[25]  Đỗ Thông Minh, “Tự vấn: Người Việt mạnh yếu chỗ nào?”, Vui Học Việt Hán Nôm, Đông Kinh: 2003.

[26]  Chu Chi Nam, “Nhiệt t́nh cộng với ngu dốt thành ra tội ác,”, Paris 30.01.2004.

[27]  World Bank, “The East Asian Miracle,” Oxford University Press, New York: 1993.

[28]  Tổng sản lượng nội địa trung b́nh mỗi đầu người của Việt-Nam là 430 Mỹ kim vào năm 2002.

[29]  Vơ Nhơn Trí, “Việt-Nam cần đổi mới thật sự,” Đông Á, Vancouver: December 2003.

[30]  Xinhua General News Service, “Vietnam’s state enterprises face great debts,” Hanoi: January 18, 2004.

[31]  Lâm Lễ Trinh, “Bứng gốc trồng người, một chính sách xuẩn động,” Việt Báo, Westminster, California: 24.9.2000.

[32]  Phạm Bá Hoa, “Giáo dục dưới chế độ Cộng Sản Việt-Nam,” Houston: Hè 2003.

[33]  RFA, “China struggles to educate all children,” Washington, DC: January 23, 2004.

[34]  Các trường công bậc tiểu học và trung học ỡ những quốc gia ở Á châu sau đây hoàn toàn miễn phí: Lào, Phi Luật Tân, Nam Hàn (trung học không miễn phí),Tân Gia Ba, Mă Lai và Nam Dương. Giáo dục tiểu học và trung học (lớp 1 đến 12) ở Đài Loan không những hoàn toàn miễn phí mà c̣n bắt buộc đối với mọi người. Ngoài Việt-Nam ra chỉ có hai nước ở Đông Á là Thái Lan và Trung Quốc là bắt học sinh phải đóng học phí ở hai bậc tiểu và trung học. Ở Cao Miên, trên nguyên tắc các trường công ở cả hai bậc tiểu và trung học là miễn phí. Nhưng chính phủ cho phép các giáo viên nhận đóng góp của phụ huynh và lấy tiền dậy giờ ở tư gia. V́ vậy, học sinh nghèo bắt buộc phải bỏ học.  Ở Nhật Bản cha mẹ chia sẻ một phần chi phí giáo dục với chính phủ: 6.6% ở bậc tiểu học, 12.9% ở bậc trung học đệ nhất cấp, và 25.8% ở bậc trung học đệ nhị cấp. Trong khi đó giáo dục bậc tiểu học và trung học hoàn toàn miễn phí ở những cường quốc Tây phương như Hoa-Kỳ, Canada, Anh, Ḥa Lan, Pháp và Đức. Ở hai nước sau, sinh viên đại học chỉ phải trả một vài lệ phí hành chánh thấp khoảng dưới 1,000 Âu kim (Euro) mỗi năm.

[35] Binh Tran-Nam, “Education reform and sustainable development in Vietnam: a preliminary analysis,” University of New South Wales, Sydney, Australia: November 2003. This paper was presented at the Conference on Sustainable Development in Vietnam at the University of Maryland on November 13, 2003.

[36] Heritage Foundation and Wall Street Journal, “2004 Index of Economic Freedom,”  Washington, DC: December 2003.

[37]  Nguyễn Gia Kiểng, “Tổ Quốc Ăn Năn,” tự xuất bản, Paris: 2001. 265-268.