DC&PT - Thời Sự 2019

Dân chủ hóa chế độ

là phương pháp duy nhứt khẳng định chủ quyền biển đảo

 Trương Nhân Tuấn

 

Nếu không có ǵ thay đổi, chắc chắn Việt Nam sẽ phải nhượng bộ, như “gác tranh chấp cùng khai thác” với Trung Quốc. Cuối cùng rồi cũng sẽ đưa tới việc lănh đạo VN kư kết các văn kiện pháp lư nh́n nhận chủ quyền của TQ ở các đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Nếu ta t́m hiểu nguồn gốc tranh chấp giữa VN và TQ về chủ quyền HS và TS, ta thấy rằng ch́a khóa để VN có thể giữ vững danh nghĩa chủ quyền ở hai quần đảo này là “dân chủ hóa chế độ”.

Thật vậy, TQ bắt đầu lên tiếng tranh chấp chủ quyền quần đảo Hoàng Sa với VN từ năm 1909. Ta có thể khẳng định, hầu hết sách vở, tài liệu… do TQ, hay do người nước ngoài xuất bản, trước năm 1909 không có tài liệu nào khẳng định TQ có chủ quyền ở quần đảo Hoàng Sa. Các tài liệu cổ đều ghi nhận điểm cực nam của lănh thổ TQ là đảo Hải Nam.

TQ bắt đầu biết đến sự hiện hữu của HS, đồng thời lên tiếng yêu sách chủ quyền quần đảo này (v́ lư do chiến lược), chỉ khi thấy người Nhật ḍm ngó và khai thác phân chim ở các đảo này. Những văn kiện ngoại giao của TQ (có giá trị pháp lư), đến thập niên 30 thế kỷ trước c̣n khẳng định vùng cực nam của TQ là “Tây sa quần đảo” (tức HS).

TQ sau đó lên tiếng yêu sách chủ quyền quần đảo Trường Sa, họ gọi là Nam sa, vào các năm cuối thập niên 1930, sau khi Pháp ra tuyên bố sáp nhập TS vào lănh thổ VN, với danh nghĩa sáp nhập một lănh thổ vô chủ.

Sau Thế chiến II, TQ của Tưởng Giới Thạch đứng về phe chiến thắng, trở thành một trong năm “ngũ đại cường” có quyền quyết định số phận các quốc gia thua trận, đồng thời với các vùng lănh thổ mà các quốc gia “Trục” Đức, Ư, Nhật đă chiếm trong thời kỳ chiến tranh.

TQ của Tưởng giới Thạch nhiều lần cam kết với “tam đại cường” Mỹ, Anh, Liên xô (như qua Tuyên bố Cairo 1943) là “không bành trướng lănh thổ”. Các yêu sách của họ Tưởng với đại diện phe Đồng minh để ông này “tuyên bố chiến tranh” với Nhật, là trả lại cho TQ các vùng đất mà Nhật đă chiếm như Măn Châu, Đài loan, Bành hồ. Không thấy đại diện TQ yêu sách, hay nhắc nhở tới số phận HS và TS. Họ Tưởng có nhiều cơ hội để khẳng định chủ quyền HS và TS thuộc về TQ, như lúc kư hiệp ước trao đổi (quyền lợi kinh tế lấy quyền lợi chính trị) với Pháp năm 1946.

Lần đầu tiên và duy nhứt, bên lề hội nghị San Francisco 1951, thủ tướng Chu Ân Lai của TQ (phe cộng sản) tuyên bố không nh́n nhận hiệu lực ḥa ước San Francisco, đồng thời nhắc lại yêu sách HS và TS thuộc TQ. Tuyên bố của TQ được LX và các quốc gia thuộc khối XHCN ủng hộ.

Vấn đề là đến năm 1958 nhà nước VNDCCH ra văn bản “nh́n nhận và cam kết tôn trọng” các tuyên bố của TQ về lănh hải. Văn bản do thủ tướng Phạm Văn Đồng kư tên. Vấn đề là VNDCCH “im lặng” không nói đến các yêu sách của TQ về lănh thổ Hoàng Sa và Trường Sa.

Theo tập quán quốc tế và chiếu theo luật quốc tế hiện hành về hiệu lực pháp lư các “tuyên bố đơn phương”, tuyên bố về hải phận và chủ quyền lănh thổ của TQ có giá trị pháp lư ràng buộc cho các quốc gia không lên tiếng phản đối (hay giữ im lặng). VNDCCH đă không lên tiếng phản đối mà c̣n ra văn bản “nh́n nhận và cam kết thi hành”.

Điều “may” cho VN là lúc PVĐ kư văn bản, hiện hữu thực thể đối kháng chính trị với VNDCCH là VNCH ở phía nam tuyến 17. VNCH là phía thực sự có quyền quản lư HS và TS.

Ta thấy năm 2014 lúc giàn khoan HD981 quấy nhiễu trong vùng thềm lục địa VN, cách đảo Lư sơn khoảng 20 hải lư. VN đă có những động thái (như là muốn) vận động LHQ ra nghị quyết tố cáo hành vi ngang ngược bành trướng của TQ.

Vấn đề là phía TQ đă tung ra những tài liệu phản biện, gồm tuyên bố “nh́n nhận và cam kết thi hành” 1958 của PVD, c̣n có những tài liệu như sách giảo khoa, bản đồ, tài liệu báo chí v.v… cho thấy VNDCCH liên tục “nh́n nhận” chủ quyền của TQ ở HS và TS.

Mặc dầu tài liệu chưa bạch hóa, nhưng ta có thể đoán là VN đă vận động LHQ thất bại. Những hành vi của TQ (mà VN gọi là bành trướng, vi phạm luật biển) đều phù hợp với thực tiễn pháp lư quốc tế.

Địa điểm đặt giàn khoan HD981 ở khoảng giữa đảo Tri tôn và đảo Lư Sơn. VN không có lư do phản biện, nếu đảo Tri tôn có “hiệu lực đảo” theo qui định điều 121 Luật Biển 1982.

VN phản đối yêu sách chủ quyền của TQ ở HS và TS, mọi lập luận đều dựa trên quan điểm của VNCH.

Điều này sẽ thuyết phục dư luận quốc tế, nếu nhà nước VN hôm nay đă “kế thừa” di sản của VNCH.

Điều may khác cho VN hôm nay là Phi đă kiện và thắng kiện TQ. Luật biển khu vực TS được phán quyết 11-7-2016 giải thích cụ thể rơ ràng và “cách áp dụng Luật biển” đồng thời cũng được minh bạch.

Học giả VN nghĩ rằng từ nay VN có “cơ sở pháp lư” để phản biện mọi hành vi của TQ ở vùng Tư chính.

Điều này chưa chắc chắn 100%. TQ có đến 3 lư do để không tuân thủ phán quyết. Trong khi VN vẫn chưa làm thủ tục để phán quyết có hiệu lực trên vùng biển của ḿnh.

C̣n vùng biển thuộc HS th́ sao? TQ có thể quấy nhiễu vùng biển này mà VN không có lư do nào để phản biện.

Từ (rất) lâu tôi có viết rằng, nguồn gốc mọi tranh chấp ở biển Đông đến từ tranh chấp “chủ quyền”. Khi vấn đề “chủ quyền” chưa giải quyết rốt ráo, các tranh chấp vẫn c̣n cội nguồn để phát triển và bùng nổ nếu có dịp.

V́ vậy tôi đă (nhiều lần) tŕnh bày các phương pháp khẳng định chủ quyền HS và TS qua việc “kế thừa” di sản VNCH thông qua thủ tục “ḥa giải quốc gia”.

Mà việc “ḥa giải quốc gia” chỉ là cách nói khác của việc nh́n nhận “đa nguyên chính trị” và “dân chủ hóa chế độ”.

Cái khó hiện nay của VN, hiển nhiên đảng CSVN không hề có ư định “dân chủ hóa chế độ”. Cái bánh quyền lực quá ngon để họ “chia sẻ” với bất kỳ ai. Nhưng lực lượng “dân chủ” của VN vẫn không có ǵ, ngoại trừ một vài cá nhân lẻ tẻ.

Nhưng những khó khăn này vẫn không đáng kể nếu so sánh với nguy cơ mất đất, mất biển.

Nếu không có ǵ thay đổi, chắc chắn VN sẽ phải nhượng bộ, như “gác tranh chấp cùng khai thác” với TQ. Cuối cùng rồi cũng sẽ đưa tới việc lănh đạo VN kư kết các văn kiện pháp lư nh́n nhận chủ quyền của TQ ở các đảo HS và TS.

Điều cần nhấn mạnh là các văn kiện này có giá trị ràng buộc cho tất cả các thế hệ VN trong tương lai. Cái ảo tưởng (mà nhiều người nhắc đi nhắc lại) lật đổ được cộng sản th́ giải quyết được tất cả.

Luật quốc tế (Công ước Vienne 1969-1981 về nội dung kế thừa các kết ước) không nh́n nhận việc đặt lại các kết ước có liên quan đến lănh thổ (hay làm thay đổi đường biên giới).

V́ vậy việc tranh đấu bảo vệ lănh thổ, bảo vệ chủ quyền biển đảo là việc phải làm ngay bây giờ, phải tranh đấu bây giờ.

Đừng bao giờ lẫn lộn “ḷng thù hận” TQ hay CSVN với “ḷng yêu nước”. Thù hận là đập phá. Yêu nước là xây dựng.

Trích: Tiếng dân 10.10.19

 

Mục Thời sự Tạp chí Dân chủ & Phát triển điện tử:  

            www.dcpt.org                                                   

hay       www.dcvapt.net                                     

                                                          

                                                                                            

Email: dcvapt@gmail.com                     

Hiệp Hội Dân Chủ và Phát Triển Việt Nam     Trở về Mục Lục